|
|
|
|
 |
|
......................................................................................................................................................................................... |
CHỢ ÂM DƯƠNG - NƠI "MUA MAY, BÁN RỦI"
Chợ nằm
ở địa phận Làng Ó (nay là làng Xuân Ổ), xã Võ Cường, thị xã Bắc
Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Mỗi năm chợ chỉ họp một lần vào đêm mồng 4 rạng
ngày mồng 5 Tết (tháng giêng âm lịch)...
Những huyền thoại về chợ Âm Dương
Theo tương truyền của người xưa, nơi họp chợ Âm Dương xưa
là bãi chiến trường do đó có nhiều người chết.
Chợ họp là để tạo cơ
hội cho người chết và người sống gặp nhau. Chợ bắt đầu họp vào lúc
lên đèn, trên một bãi đất trống cạnh ngôi miếu cổ có tiếng là linh
thiêng của làng. Chợ không có lều, quán, không sử dụng đèn nến.
Người đi chợ mang một con gà đen đã được chăm sóc cẩn thận làm vật
tế Thành Hoàng làng. Trong chợ cũng có cả những dãy hàng mã, hương,
nến, cau trầu. Ở đầu chợ, người ta đặt một chậu nước để thử tiền âm
hay tiền dương. Có người sớm hôm sau xem trong túi đựng tiền toàn là
vỏ hến, lá đa, thậm chí có cả mẩu yếm sồi. Mọi người đều rất vui vẻ
vì coi đó là dịp làm điều phúc, điều thiện với người đã chết. Chợ
tan khi còn đêm.
Với người dân nơi đây,
chợ Âm Dương cũng chẳng khác một lễ hội cầu mùa ở các địa phương
khác, bởi nó mang đậm nét văn hóa dân gian vùng Kinh Bắc và đã tồn
tại cách đây gần ngàn năm. Vào dịp đầu Xuân năm nào cũng vậy, mọi
người đến hội chợ chỉ cốt được cầu may; những điều rủi ro, phiền
muộn sẽ được xóa tan khi vào đêm hội chợ, có như thế việc làm ăn,
mùa vụ năm đó mới thuận lợi, được mùa bội thu.
Chợ nằm ở địa phận Làng
Ó (nay là làng Xuân Ổ), xã Võ Cường, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Mỗi năm chợ chỉ họp một lần vào đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 Tết
(tháng giêng âm lịch)...
Người xưa đi chợ Âm Dương
Bây giờ, cũng không ai còn nhớ phiên chợ Âm Dương đầu tiên bắt
đầu từ khi nào, chỉ biết rằng ngày xưa, làng Ó còn nghèo lắm; thiếu
ăn, thiếu mặc nên con cháu phải kéo nhau đi làm thuê ở những tỉnh
xa. Dẫu có đi nơi đâu, nhưng nhớ ngày hội chợ Âm Dương, họ lại rủ
nhau về dự đêm hội chợ và để có cơ may gặp lại người đã mất. Họ tin
rằng, hòa lẫn trong dòng người đến phiên chợ đêm nay sẽ có cả hương
hồn của ông cha, người thân hiện về để tìm gặp lại gia đình, bạn bè.
Để an ủi, động viên nhau xua tan nỗi buồn, nhớ tiếc người thân đã
mất, họ cùng ca những làn điệu dân ca Quan họ của quê mình. Hát mãi,
buồn hóa thành vui, nỗi tiếc nhớ hóa thành niềm hạnh phúc khi có
thêm bạn bè làm trà, rượu, bạn tâm tình. Chợ tan khi đến canh ba.
Trong sương sớm, khúc Giã bạn như làm các liền anh, liền chị thêm
nghẹn lời, lưu luyến hẹn đến phiên chợ lần sau.
Cụ Nguyễn Văn Hỷ (85
tuổi), một trong những già làng ở làng Xuân Ổ, kể: Ngày xưa, cụ nghe
rằng chợ bắt đầu họp vào lúc chập tối, mỗi dịp lễ hội làng đều có
đến 2 sào đất ruộng làm bãi chợ bán gà đen đủ loại to, nhỏ. Nhiều gà
lắm nhưng cũng không ai biết mỗi phiên chợ tiêu thụ khoảng bao nhiêu
con gà. Bởi chợ bán nhiều gà đen, nên người ta gọi là chợ Gà Đen và
tên làng Ó cũng có từ thuở ấy. Người bán có thể là người làng, cũng
có thể là người từ nơi khác đến, điều đặc biệt là chỉ bán gà mái
đen, mà không phải gà trống để cúng giỗ như nhiều nơi. Chợ không có
lều quán, không hàng lối, người bán để gà trong lồng nhỏ, cũng có
người ôm gà trên tay, người mua chỉ sờ xem gà béo, gầy. Người bán
không nói giá cả, người mua không mặc cả, trả bao nhiêu tiền cũng
được. Mua gà xong, người ta mua thêm vàng mã, trầu cau, nến, hương
đã được bó sẵn thành bó để về hóa gửi cho người cõi âm. Trong đêm,
chỉ có bóng người lờ mờ qua lại và tiếng thì thào làm quen, họ mời
nhau khi tan chợ thì về ăn cơm và hát Quan họ cùng gia đình để lấy
may.
Người ta mua gà đen
nhiều như vậy là để ngày 8 (tháng giêng) là đem vào hội đình làng dự
Cỗ Kén (tức là cỗ chọn) giữa Lục Giáp (6 Giáp – các đơn vị dân cư
của làng) bằng cách chọn những con gà làm đẹp, xôi ngon. Những mâm
xôi này là phải do các trai tráng trong làng quây cót giã gạo nếp
trước hằng tháng trời, bản thân họ phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc gọn
gàng, vóc dáng khỏe mạnh (đã ăn ở thanh tịnh 2 tuần lễ). Mỗi Giáp sẽ
làm 2 lễ, 6 Giáp có 12 lễ, trong đó Ban Tổ chức là những người già
làng sẽ chọn 3 lễ đẹp nhất, ngon nhất để dâng lên 3 bàn thờ chính là
Chính, Tả, Hữu của đình. Còn lại các cỗ khác sẽ đặt xung quanh và ở
các bệ thờ phụ. Những cỗ được giải nhất, nhì, ba sẽ được thưởng mỗi
lễ một miếng trầu, cau têm cánh phượng. Tuy công sức bỏ ra làm mâm
cỗ tốn bao công phu, vất vả nhưng nếu được chọn là Cỗ Kén thì người
dân ở Giáp ấy tin rằng cả năm được may mắn, làm ăn phát đạt.
Song, cái may mắn trọn
vẹn lại là khâu cuối cùng, trước khi mời được bạn bè về gia đình tụ
họp và hát Quan họ, chủ nhà và khách cùng đem vàng mã hóa để tưởng
nhớ dòng họ, tổ tiên và nhớ đến người đã mất cho cả gia đình của chủ
và khách. Điều quan trọng hơn nữa là mỗi gia đình đã làm sẵn 4 đến 5
mâm cỗ để đãi khách. Cỗ đã được chuẩn bị từ sáng mồng 4, chiều tối
đi hội chợ là các mâm cỗ đã phải chuẩn bị xong. Khách đến ăn thì ít,
mà hát Quan họ lại say sưa khiến giây phút giã bạn bao giờ cũng lưu
luyến, không muốn chia tay. Người ta không để ý đến mâm cỗ đầy hay
vơi mà nhà nào càng mời được nhiều khách về nhà, năm đó may mắn và
lộc đến càng nhiều.
Chợ Âm Dương hôm nay
Gần một thế kỷ qua, thời gian đã cuốn theo biết bao đổi thay đến
vùng đất Kinh Bắc này, ngay cả dòng sông Tiêu Tương êm ả chảy qua
làng xưa giờ đã được bồi đắp. Ở đó nhiều nhà mới xây mọc lên, đến
cái tên làng Ó cũng ít người biết đến để nói rằng làng quê này đã
đổi mới, trẻ hóa và tươi mới như mùa Xuân về làng. Ông Nguyễn Sơn,
Trưởng Ban Mặt trận Tổ quốc xã, đưa chúng tôi đến nơi họp chợ Âm
Dương xưa trong nỗi luyến tiếc. Nơi bán gà đen giờ đã là những ruộng
rau xanh non. Dù vậy, cứ mỗi độ Xuân về, người làng Xuân Ổ, thanh
niên, trai gái đến cả người già, con trẻ lại xúng xính trong những
bộ quần áo tứ thân, khăn xếp đẹp nhất, náo nức đón chờ đêm hội chợ.
Chợ Âm Dương bây giờ tuy vẫn không có lều quán, không đèn nến, vẫn
tiếng thì thào trong đêm nhưng trong chợ đã có bán đủ thứ hàng vài
vóc, khăn quàng cổ, khăn tay, bít tất, cặp tóc, hoa quả và vẫn có đủ
đồ cúng tế cho người âm... Con cháu đến chợ đã không bắt buộc phải
mua cho được gà đen, mà gà mái thường, đẹp, cũng được đem bán. Các
trai tráng trong làng không phải giã gạo thâu đêm mà gạo ngon đã
được xay xát sẵn để dành từ vụ mùa. Duy chỉ có việc chuẩn bị cỗ đón
khách là không thể thiếu.
Cái vẻ huyền bí của chợ
xưa đã lan rộng đến cả những tỉnh xa tận trong Nam, ngoài Bắc, khách
thập phương cũng kéo nhau về dự đêm chợ Âm Dương để cầu được nhiều
lộc may mắn, được bay tỏ nỗi nhớ quê hương hay nỗi niềm đam mê Quan
họ của mình. Đi chợ, đám thanh niên còn muốn tìm nơi bán đồ của con
gái làng bên mà mình thích để mua đồ. Tiếng thì thào trong đêm chợ
ấy còn là tiếng làm quen, tiếng tỏ tình và khi được cô gái mời về
nhà dự cỗ cùng gia đình, bạn bè mới là những thử thách ban đầu. Ngôi
miếu cổ vẫn linh thiêng và cây đa cổ thụ của làng vẫn còn đó xum xuê
xòa bóng mát như để chứng kiến bao đổi thay của làng, của biết bao
mối tình hò hẹn, đơm hoa kết trái của những đôi lứa yêu nhau từ
phiên chợ đêm nay. Trong những làn điệu Quan họ trữ tình sâu lắng
cùng men rượu Xuân mỗi lúc thêm nồng đượm, còn chứa đựng cả lời yêu
đương, da diết mà chàng trai muốn nhắn gửi cho người mình yêu. Sau
đêm chợ huyền thoại ấy, đã có rất nhiều chàng trai, cô gái nên duyên
chồng vợ và những làn điệu dân ca Quan họ còn ngân vang mãi..
.........................................................................................................................................................................................
CHỢ VIỆT
NAM
Một nhà khoa học nữ, Việt kiều ở Mỹ trong bức thư gửi về cho người
bạn gái đã nói lên nỗi mong ước duy nhất của mình khi trở về Việt
Nam là để được đi chợ. Cũng dễ hiểu thôi, chị đã ngán ngẩm sự máy
móc hoá của các siêu thị trong nền thương mại hiện đại. Người ta cứ
việc đi nhặt hàng, đến cửa sẽ có người đưa biên lai tính tiền, hay
cứ nhét tấm
séc vào máy sẽ có robot đưa hàng, hàng chế biến sẵn không có tiếng
trả lời, tất cả diễn ra trong khô khan, lặng im, vô cảm.
Còn khi đi chợ ở Việt
Nam, tất nhiên sẽ khác nhiều, Ðến chợ bạn sẽ đắm mình trong cảnh
chen chúc, đông đúc và có thêm một chút gì đó lộn xộn, ồn ào, thiếu
sạch sẽ nhưng vui và ấm áp. Tay nắm tay, vai chạm vai, mắt nhìn nhau
được hỏi han, mời chào như người nhà... được nghe những mùi vị thơm
thảo của xứ sở quê hương lan toả khắp không gian. Tai nghe đầy ắp
tiếng Việt, thứ tiếng nói cứ trầm bổng như hát. Mắt nhìn no nê trước
những sắc màu tươi tắn của cây trái, sản vật, hàng hoá...
Còn mỏi chân vì lòng
vòng dạo chợ ư? Có thể nghỉ ngơi với ly nước giải khát trên tay. Hay
đói một chút, chiếc ghế bằng gỗ mộc mạc sẽ chờ bạn sẵn đấy với vài
món ăn nóng hổi, tuỳ thích như dự một party tốc hành.
Thật khó có thể biết
được chính xác ở Việt Nam có bao nhiêu cái chợ, và có bao nhiêu loại
chợ búa khác nhau. ở thành phố chợ đông đến tận khuya. ở đồng bằng,
chợ miền quê, chợ duyên hải có khi là một buổi mua bán ngắn ngủi vào
bình minh hay chiều tối thường gọi là "chợ mai" hay "chợ chiều". Rồi
chợ "phiên" miền núi lâu lâu mới họp một lần.
Người địa phương chờ
được đi chợ như đi lễ hội. Ở đó, kiểu thương mại bằng cách trao đổi
hàng hoá như từ thời cổ đại vẫn còn sót lại như biểu tượng cho vẻ
đẹp "mua bán" nguyên sơ của ngày thơ ấu nhân loại...
Khó có thể nói hết những
cảm xúc tươi nguyên khi đi chợ Việt ở các vùng đất khác nhau.
Tôi đã
từng đi chợ miền biển, những con cá còn quẫy trong nhứng chiếc thùng
bằng nan tre đan rất khéo léo. Con tôm, con cua ngọ nguậy, những con
sứa óng ánh sắc cầu vồng vừa từ biệt biển khơi phập phồng trong
rổ... Chợ miền quê là những trái dừa còn "chỏm tóc"; là rau răm,
riềng, sả, tỏi, hành và rau ngũ điếc, nồng cay mùi vị khó quên; là
lúa gạo, sắn khoai lam lũ nhọc nhằn... Tôi cũng đã từng đặt chân lên
chợ miền núi, trung du, nơi có những túi thổ cẩm, chéo dù, khăn voan
rực rỡ, những chiếc sọt mây bóng bẩy tài hoa, những da gấu, nhung
nai, da trăn, mật ong, xa nhân, những cây kim hạt muối quí báu từ
miền xuôi mang lên, tình nghĩa... Rồi chợ miền Ðông, miền Tây Nam
bộ, tấp nập xuồng ghe, chợ trên sông bồng bềnh cánh võng với cây
trái, lúa gạo, tôm cá miệt vườn của một vùng kênh rạch phù xa miền
Nam đầy sắc thái lạ lùng...
Vâng, đi chợ, có khi bạn sẽ được nghe cả tiếng đàn bầu, đàn nhị,
được nghe những câu truyện lục bát của cụ Ðồ Chiểu, Nguyễn Du... lẫn
các nghệ sĩ dân gian... Rồi những cuộc biểu diễn vội vã như người
Di-gan xứ Việt với những bài võ, trò xiếc, tấu hài... Biết đâu ở
đấy, một phương thuốc đặc hiệu cổ truyền sẽ giúp bạn khỏi bệnh như
các "nhà tiên chi" ấy đã nói...!
Mỗi vùng đất có một cái
chợ riêng cho mình và lưu giữ độc quyền một giá trị.
Chợ Ðồng Xuân ở Hà Nội
và chợ Bến Thành ở Sài Gòn, chợ Hàn ở Ðà Nẵng, chợ Buôn Mê ở Tây
Nguyên; chợ Sa Pa ở Tây Bắc; chợ Ðầm ở Nha Trang; chợ Ðông Ba ở
Huế...cứ như thế "kẻ tám lạng người nửa cân", không đi, không đến,
không bao giờ hiểu được.
Một người nước ngoài làm
công tác văn hoá nhiều lần đến Việt Nam đã nói rất hay về "chợ
Việt": Ðó là thương trường bán lộ thiên kỳ diệu, như sự bùng nổ của
sắc màu, âm thanh, hương vị của thiên nhiên, con người và xứ sở. Quả
thật đi chợ Việt, cũng là lúc con người ta chìm đắm trong một biểu
cảm của một sắc thái Việt, một thứ văn hoá sống động chứa chất đầy
một tính duy cảm.
.........................................................................................................................................................................................
LÀNG
HƯƠNG YÊN PHỤ
Nói tới
Thăng Long - Ðông Ðô -Hà Nội đất Kinh kỳ ngàn năm văn hiến, không
thể không kể tới những làng nghề truyền thống, bởi chính những làng
nghề, phố nghề đã tụ hội tại mảnh đất này và làm nên một kinh đô
nhộn nhịp, sầm uất. Trải qua bao thắng trầm của lịch sử, tới hôm nay
có rất nhiều những làng nghề ở Hà Nội đã mai một như Ngọc Hà, Ngũ
Xã, An Thái ... nhưng Yên Phụ, một làng làm hương vẫn như sống mãi
với thời gian.
Nằm ở cửa ô Yên Phụ, qua
dốc Thanh Niên - Cổ Ngư là tới làng nằm ven hồ Tây mênh mông kỳ bí,
trước kia thuộc quận Ba Ðình, nay về quận mới Tây Hồ. Ngoài nghề
nuôi cá cảnh mới được du nhập mấy chục năm nay, thì người dân ở đây
vẫn có nghề làm hương đốt từ lâu đời.
Theo một số tư liệu cũng
như các bậc cao niên trong làng kể lại thì nghề làm hương ở đây do
một người Trung Hoa mang tới từ thế kỷ 13 và dạy cho dân làng. Ðạo
Phật và tục đốt hương phát triển ở đây mà còn ở nhiều nơi khác. Bước
sang thế kỷ này, nghề hương ở Yên Phụ phát triển mạnh mẽ nhất và
không chỉ thu hút dân trong làng mà còn hấp dẫn các làng An Dương,
Nghi Tàm theo nghề với số lượng lớn. Ðầu những năm 80 nghề hương ở
đây có dấu hiệu bị mai một khi rất nhiều gia đình bỏ nghề chuyển qua
nuôi cá cảnh và kinh doanh, buôn bán. Lúc này chỉ còn khoảng 20% số
hộ trong làng còn làm nghề. Thế nhưng, chỉ 7-8 năm sau, bước sang
những năm 90, nghề này lại được khôi phục.
Nghề làm hương tuy không
nhàn hạ và thi nhập cũng chẳng lấy gì làm cao nhưng người dân vẫn
một mực theo nghề vì họ cho rằng đây là nghệ truyền thống, vả lại từ
lâu người dân đã sống bằng nghề này giờ không biết chuyển nghề nào
cho hợp.
Quả đúng như vậy, nghề
hương ở đây rất vất vả, để làm ra được que hương phải mất bao nhiêu
công đoạn. Nhà làm nghề thì tất cả các thành viên trong gia đình đều
phải làm việc cật lực với sự phân công mỗi người một việc, từ nhỏ
tới lớn, từ một việc, từ đơn giản nhất tới phức tạp. Người già và
trẻ em thường đảm nhiệm những công việc nhẹ nhàng không phức tạo như
vót que, phơi và thu lượm, đóng bao thành phẩm.
Công đoạn khó và phức
tạp nhất là khâu pha trộn bột mùn hương (loại mùn cưa gỗ) với một số
hương liệu như bột hồi, quế, trầm... Công việc này phải do người có
tay nghề, kỹ thuật và kinh nghiệm đảm nhiệm bởi nếu pha chế không
cẩu thận hoặc không đúng liều lượng, hương sẽ không thơm...
|