|
|
|
|
 |
|
......................................................................................................................................................................................... |
LÀNG - PHƯỜNG
Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được hình thành trên cơ sở của nền
văn minh nông nghiệp. Cuộc sống của mỗi người Việt Nam đều gắn bó
mật thiết với xóm làng, quê hương.
Trong xã hội Việt Nam,
dân cư tụ hội thành làng xã ở nơi đồng ruộng và phường, hội ở nơi
thành thị. Làng và phường đã ra đời ngay từ những buổi đầu trứng
nước của dân tộc. Dần dà, các tổ chức này ngày càng ổn định và chặt
chẽ hơn.
Trên cơ sở đồng lòng
nhất trí, ở làng có luật của làng, gọi là hương ước, thợ thủ công ở
các xóm nghề, phố nghề thì có phường ước.
Tinh thần then chốt của
những hương ước, phường ước xuất phát từ thuần phong mỹ tục của
làng, phường, là những cụ thể hoá phong phú sinh động nằm trong
khuôn khổ của luật pháp quốc gia.
Viện nghiên cứu Hán - Nôm ở Hà
Nội và ở các địa phương hiện còn lưu giữ hàng vạn bản hương ước,
phường ước như vậy.
........................................................................................................................................................................................
CHỢ LỚN
- SÀI GÒN
Chợ Lớn,
khi nghe đến cái tên này mỗi người đều có những cảm nhận khác nhau.
Sẽ có thể là hình ảnh của các xưởng sản xuất thủ công nghiệp nhộn
nhịp nhất thành phố, hay là nơi san sát các hàng quán, tiệm ăn mang
phong vị Trung Hoa... Đúng vậy, hầu như ở khắp mọi nơi, khi nhắc đến
Chợ Lớn là người ta nghĩ ngay đến một Chợ Lớn - phố Tàu (China Town)
trong lòng thành phố Hồ Chí Minh. Chợ Lớn đã trở thành một địa danh
nổi tiếng không thể thiếu trong các chương trình du lịch tại thành
phố Hồ Chí Minh.
Chợ Lớn là cả một khu
vực rất rộng, trong đó có cả khu China Town, bao gồm quận 5, quận
10, một phần quận 11 và quận 6. Là nơi tập trung nhiều người Hoa
nhất, họ sinh sống chủ yếu ở quận 5 - nơi còn bảo tồn nguyên vẹn các
giá trị văn hóa, kiến trúc và tôn giáo của hàng trăm năm trước. Nếu
như những giá trị văn hóa, lịch sử cùng thời gian ít nhiều cũng bị
mai một, thế nhưng với nơi đây dường như sức phá hủy của thời gian
chậm lại rất nhiều. Trên những mái nhà lợp ngói ống ở dãy phố Hoa
kiều, bụi thời gian nhuốm chút màu nâu xám rất đẹp, vẻ đẹp ấy cùng
với kiến trúc đặc trưng nơi đây phảng phất một nét đẹp rất cổ điển.
Khách viếng thăm mỗi khi ghé qua đều giật mình tự hỏi, liệu đây có
phải là quang cảnh của những năm cuối thế kỷ 20 hay không? hoặc cảm
giác như mình đang hiện diện trong khu phố cổ nào đó của người Hoa
vào những thế kỷ trước?
Ban ngày Chợ Lớn ồn ào
náo nhiệt người mua kẻ bán tấp nập. Không có một món hàng nào mà Chợ
Lớn không có. Chợ Lớn còn độc đáo ở chỗ ngoài việc tham quan, mua
sắm, khách du lịch còn được tận mắt chứng kiến một cuộc sống sôi
động của những người Hoa di cư đến từ hàng thập kỷ nay, và cả những
người được sinh ra và lớn lên ngay trên mảnh đất này. Với người Sài
Gòn - Gia Định cũ, mỗi khi rủ nhau lên khu người Hoa họ vẫn nói: Lên
Chợ Lớn, song điều đó không có nghĩa là phải ghé thăm chợ mà có thể
là ghé thăm bất cứ một tiệm ăn nào quanh các con đường Châu Văn
Liêm, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi. Vào những tiệm ăn có bảng hiệu ghi
hai thứ tiếng và đặc biệt là chủ nhà vừa có thể đối đáp với thực
khách bằng tiếng Việt, vừa tíu tít gọi người nhà bằng tiếng Hoa,
nghe sao rất lạ. Một người đàn ông bụng to, khuôn mặt hớn hở với
chiếc khăn mặt vắt vai - đó là khuôn mẫu của những ông chủ quán ăn
Tàu. Nhưng đó chưa phải là tất cả những gì mà Chợ Lớn đem tới cho
bạn...
Cái "chất Chợ Lớn" đã
bộc lộ một cách rõ nét khi thành phố lên đèn. 90% nhà phố trên đoạn
đường Trần Hưng Đạo B đã mở hết cửa bán buôn, kinh doanh, dịch vụ.
Người qua lại dập dìu đến chốn phồn hoa. Từ xa đã thấy hàng loạt
bảng hiệu được thiết kế với ánh đèn điện tử màu, chớp sáng theo đủ
mọi dáng, mọi kiểu. Từ những năm xa xưa người dân miền Nam đã có
câu: "Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây" hoặc dân Sài Gòn thường kháo nhau: "Ăn
quận 5, nằm quận 3"... Thật vậy không gì để nói lên cái đặc trưng
của các món ăn do người Hoa nấu đầy chất bổ dưỡng béo ngậy. Thức ăn
trong các nhà hàng phải đa dạng và tên gọi phải cầu kỳ. Tại các nhà
hàng, hàng chục món ăn được thực khách gọi luôn một lúc, ăn chưa hết
món trước đã vội kêu món sau.
Một Chợ Lớn về đêm hào
nhoáng kỳ lạ khó quên. Các tiệm ăn, nhà hàng nơi đây nổi tiếng đến
mức có một câu nói mà ai ai cũng biết "Ăn quận 5, nằm quận 3", phần
nào phản ánh được nét sành điệu trong lối sống của người Sài Gòn
xưa.
(VOV)
........................................................................................................................................................................................
DÂN TỘC VIỆT NAM
Cộng đồng người Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau. Trong
đó dân tộc Việt (Kinh) chiếm gần 90% tổng số dân cả nước, hơn 10%
còn lại là dân số của 53 dân tộc. Trải qua bao thế kỷ, cộng động các
dân tộc Việt Nam đă gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử đấu
tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và
xây dựng đất nước. Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói và bản
sắc văn hoá riêng.
Bản sắc văn hoá của các
dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạt cộng đồng và trong
các hoạt động kinh tế. Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xă
hội, các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ
tết, lịch, văn nghệ, vui chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét
chung. Đó là đức tính cần cù chịu khó, thông minh trong sản xuất; với thiên nhiên
- gắn bó hoà đồng; với kẻ thù - không khoan nhượng; với con người -
nhân hậu vị tha, khiêm nhường... Tất cả những đặc tính đó là phẩm
chất của con người Việt Nam.
54 dân
tộc sống trên đất Việt Nam có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ
như sau:
-
Nhóm Việt - Mường có 4
dân tộc là: Việt (Kinh), Chứt, Mường, Thổ.
-
Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán
Chay, Tày, Thái.
-
Nhóm Môn - Khơmer, có 21 dân tộc là: Ba Na, Brâu, Bru-Vân Kiều,
Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cờ-tu, Giẻ-triêng, Hrê, Kháng, Khơmer, Khơ-mú, Mạ,
Mảng, M'Nông, Ơ-du, Rơ-măm,
Tà-Ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng.
-
Nhóm Hmông - Dao có 3
dân tộc là: Dao, Hmông, Pà Thẻn.
-
Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ
Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo.
-
Nhóm Nam đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê-đê, Gia-rai,
Ra-glai.
-
Nhóm Hán có 3 dân tộc là:
Hoa, Ngái, Sán dìu.
-
Nhóm Tạng có 6 dân
tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La.
Nghiên cứu cộng đồng các
dân tộc Việt Nam nói chung hay văn hoá các dân tộc nói riêng là
những công việc không có giới hạn. Càng nghiên cứu, tìm hiểu ta càng
thấy say mê, cuốn hút và ta càng thấy thêm yêu đất nước Việt Nam
hơn.
........................................................................................................................................................................................
LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát có nghề làm tranh.
Ðông Hồ, một cái tên
làng quen thuộc xinh xắn nằm bên bờ sông Ðuống thuộc huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh đã từ lâu đi vào cuộc sống tinh thần của mỗi
người dân Việt Nam bằng những bức tranh dân gian nổi tiếng, đậm đà
sắc thái dân tộc.
Tranh làng Ðông Hồ không
phải vẽ theo cảm hứng nghệ thuật mà người dùng ta dùng ván để in. Ðể
có những bản khắc đạt đến trình độ tinh xảo phải có người vẽ mẫu.
Những người vẽ mẫu và bản khắc ván đòi hỏi họ phải có lòng yêu nghệ
thuật và tâm hồn nghệ sĩ, đặc biệt phải có trình độ kỹ thuật cao.
Công đoạn in tranh có lẽ không khó lắm bởi lẽ ai cũng có thể phết
màu lên ván rồi in.
Giấy dùng in tranh là
loại giấy gió mịn mặt. Trước khi in, giấy được bồi điệp làm nền,
chất điệp óng ánh lấy từ vỏ con sò, con hến đã tạo nên chất liệu
riêng biệt của tranh dân gian Ðông Hồ.
Sau khi in thành tranh,
kể cả cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của
tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt
cạnh mảng kia có sự ăn ý hài hoà một cách tự nhiên.
Các màu đã hoà
quyện in tranh thường lấy từ chất liệu thiên nhiên : màu đen người
ta phải đốt lá tre rồi lấy than của nó ; màu xanh lấy từ vỏ và lá
tràm, màu vàng lấy từ hoa hòe, màu đỏ thắm lấy từ thân, rễ cây
vang, màu sơn lấy từ sỏi núi, màu trắng là điệp... Những năm gần đây
có một số người khi in tranh đã từng dùng một số màu và hoá chất
hiện đại, như thế sản phẩm có tăng nhưng chất liệu màu của tranh
không tươi màu sắc nét như tranh làm truyền thống. Ðã thế, chỉ trong
một thời gian ngắn màu sắc bị phai nhạt.
Tranh dân gian Ðông Hồ
không áp dụng chặt chẽ về cơ thể học, các nguyên tắc về ánh sáng hay
luật xa gần của tranh hiện đại. Những nghệ sĩ sáng tác tranh dân
gian mang nhiều tính ước lệ trong bố cục, trong cách miêu tả về màu
sắc. Tất cả đều sử dụng lối vẽ đơn tuyến bình đồ để thể hiện, do đó
xem tranh dân gian ta thường bắt gặp cái thú vị ở những nét ngây ngô
đơn giản nhưng hợp lý hợp tình.
Không chỉ có người Hà
Nội và dân một số tỉnh thành trong nước sành điệu, yêu thích tranh
dân gian Tết Ðông Hồ về tham quan tìm hiểu và chọn mua, mà không ít
du khách, những người trong lĩnh vực hội hoạ, mỹ thuật của nước
ngoài cũng đến để nghiên cứu về nghệ thuật tranh dân gian nổi tiếng
của làng Hồ.
Ðã có một thời gian
tranh dân gian Ðông Hồ bị lãng quên nên nghề làm tranh mai một ít
nhiều. Không ít hộ bỏ làm tranh chuyển sang làm đồ vàng mã. Những
vài năm năm trở lại đây người Ðông Hồ lại hoan hỉ trở lại với nghề
tranh nhiều hơn bởi người dân của ta đã lại nhận ra vẻ đẹp trong sự
mộc mạc giản dị của tranh Ðông Hồ là không thể thiếu được trong cuộc
sống thường nhật, nhất là ngày Tết.
|