........................................................................................................................................................................................

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG VÀ XOÁ ĐÓI,
GIẢM NGHÈO VỦNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
(
TS. Nguyễn Mạnh Đôn)

Nghèo đói là hiện tượng phổ biến ở nông thôn Việt Nam với khoảng 90% số người nghèo sống ở nông thôn và chủ yếu tham gia hoạt động nông nghiệp. Tỷ lệ nghèo đói chung ở vùng nông thôn là khoảng 22%, ở vùng đô thị khoảng 10%, và ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số khoảng 40%, có nơi tới 60%.
 

Xoá đói, giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản và ưu tiên của Đảng và Chính phủ Việt Nam. Trong nhiều năm qua, Chính phủ đã cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng bằng những cơ chế, chính sách, chương trình, kế hoạch, dự án hằng năm. Nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn, đã và đang được chính phủ Việt Nam cho phép triển khai có kết quả và đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, do được triển khai với các nguồn tài chính khác nhau và bởi các tổ chức khác nhau, hiệu quả của các chương trình, dự án rất khác nhau. Vậy, làm thế nào để nâng cao hiệu quả triển khai các chương trình, dự án phát triển cộng đồng và xoá đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số?

Nguyên nhân đói nghèo được đánh giá từ các góc độ khác nhau. Theo người dân ở các vùng khó khăn thì các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đói nghèo của họ là:

  • Trình độ văn hóa thấp.

  • Thiếu tư liệu sản xuất, đặc biệt là đất canh tác. ở nhiều nơi, người dân chưa được trao quyền sử dụng tư liệu sản xuất là rừng và đất rừng.

  • Thiếu cơ hội tiếp xúc với môi trường bên ngoài, thiếu kiến thức khoa học-kỹ thuật và khả năng tiếp thu kỹ năng lao động mới.

  • Thiếu nguồn vốn đầu tư cho sản xuất ở mức tối thiểu và thiếu kinh nghiệm sử dụng nguồn vốn.

  • Thiếu định hướng phát triển hợp lý, lâu dài.

  • Lưu thông phân phối yếu, chưa có nơi tiêu thụ hàng hoá ổn định và công nghệ sau thu hoạch yếu kém.

Tuy nhiên, theo đánh giá của các ban ngành ở Trung ương, nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng đói nghèo ở đồng bào dân tộc thiểu số được xếp vào ba nhóm chính:

  • Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi như địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, thiên tai (bão lụt, sâu bệnh...), đất cằn cỗi gây cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội.

  • Do năng lực chủ quan của người nghèo như thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn, đông con, mắc các tệ nạn xã hội hay lười lao động. 

  • Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế, chính sách: Các chính sách về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chính sách giáo dục, y tế, định canh, định cư..., thiếu hoặc không đồng bộ; nguồn lực đầu tư cho vùng nghèo, xã nghèo còn hạn chế, hiệu quả thấp, thậm chí còn có cả những thất thoát, tiêu cực...

Vậy, trong ba nhóm nguyên nhân này, nên có các nhóm giải pháp ưu tiên tương ứng và nên tác động vào nhóm nguyên nhân nào trước hoặc tiến hành đồng thời cả ba nhóm giải pháp? Đây là vấn đề phức tạp và rất cần có lời giải thích hợp trong điều kiện kinh phí hỗ trợ có hạn, nhân lực triển khai không đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng, không thể triển khai cả ba nhóm giải pháp được. Để giải quyết vấn đề đói nghèo vùng đồng bào dân tộc và giảm khoảng cách về phát triển kinh tế-xã hội giữa đồng bằng và miền núi, Đảng và Chính phủ đã có nhiều chính sách ưu tiên phát triển kinh tế-xã hội miền núi. Tại Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 của Việt Nam đã chọn mục tiêu "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao".

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, chúng ta cần có những bước đi phù hợp với điều kiện địa lý, dân tộc và kinh tế - xã hội từng vùng. Có như vậy, chúng ta mới giải quyết được vấn đề đói nghèo có hiệu quả, tránh lãng phí và đạt được mục tiêu phát triển.

Song song với việc ban hành các chính sách, cơ chế phù hợp, rất cần có các nghiên cứu cơ bản về nguyên nhân và thực trạng đói nghèo của toàn vùng, cũng như của từng địa phương để có những giải pháp thích hợp với điều kiện tự nhiên, phù hợp với tập quán từng nhóm dân tộc và trình độ tiếp nhận khoa học-công nghệ của người dân. Trong hàng loạt giải pháp, chúng tôi xin trình bày một số giải pháp được coi là chủ yếu và cần được ưu tiên là:

  • Nâng cao nhận thức và năng lực của người dân và cộng đồng;

  • Chuyển giao công nghệ theo hướng ưu tiên phù hợp đặc thù địa lý và dân tộc;

  • Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ đời sống, sản xuất và lưu thông.

Các hoạt động trên đều phải dựa trên nguyên tắc phát huy tối đa sự tham gia của người dân và cộng đồng để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của các chương trình, dự án.

Khoa học - công nghệ được khẳng định là động lực phát triển kinh tế - xã hội nước ta. Các cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước là vô cùng quan trọng và khoa học-công nghệ đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy và mang lại hiệu quả của các hoạt động nhằm phát triển kinh tế-xã hội. Khoa học-công nghệ có thể tham gia vào tất cả các khâu trong các hoạt động này, từ khảo sát, lựa chọn vấn đề, xây dựng kế hoạch, triển khai và đánh giá kết quả của các hoạt động. Tuy nhiên, sự hỗ trợ bên ngoài chỉ là tạm thời và có tác dụng thúc đẩy các hoạt động phát triển cộng đồng và xoá đói, giảm nghèo. Việc phát huy năng lực nội sinh là việc rất cần thiết và phải được quan tâm. Có như vậy, các tác động từ bên ngoài mới có hiệu quả cao và có tính bền vững. Không ai khác, phải tự chính những người nghèo hiểu sự đói, nghèo của họ và tự họ có các nỗ lực vươn lên thoát khỏi cảnh đói, nghèo.

Vậy, làm thế nào để phát huy hiệu quả của các hoạt động phát triển cộng đồng và xoá đói, giảm nghèo? Chúng tôi xin nêu một số vấn đề để cùng trao đổi:

  • Cần sử dụng phương pháp tiếp cận phù hợp. Phương pháp tiếp cận phát triển cần có sự tham gia của người dân và các bên có liên quan gồm cả các đại diện chính quyền các cấp, cán bộ nghiên cứu, cán bộ phát triển. Người dân đóng vai trò là trung tâm của sự phát triển. Thực hiện và cụ thể hoá phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng lợi". Yêu cầu có tính nguyên tắc là xây dựng dự án và lập kế hoạch phải dựa trên nhu cầu của dân và xuất phát từ nhân dân, kết hợp với quy hoạch phát triển tổng thể của Nhà nước và của từng địa phương. Người dân phải được tham gia ngay từ đầu trong các hoạt động này. Như vậy, người dân sẽ biết cách sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực tại chỗ về tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động, tiền vốn, sử dụng những công cụ, phương tiện, bằng những kỹ năng và kiến thức truyền thống kết hợp với kiến thức và kỹ thuật mới được tiếp nhận.

  • Xây dựng khả năng hợp tác giữa người dân và cán bộ phát triển. Để phát huy được sức mạnh tổng hợp, bảo đảm sự chuyển giao và tiếp nhận từ hai phía một cách đồng bộ, cần làm cho cán bộ cơ sở, những người làm công tác phát triển và người dân bản địa có được sự hiểu biết nhau hơn và có tiếng nói chung.

  • Phương pháp đào tạo và tập huấn. Phương pháp đào tạo, tập huấn được xem là điểm quan trọng để nâng cao nhận thức và sự hiểu biết cho người dân. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nên sử dụng phương pháp đào tạo tích cực, trực quan, kích thích phát triển tư duy và thúc đẩy nhu cầu nhận thức. Chú trọng các hoạt động tham quan, trao đổi kinh nghiệm (cả bài học thất bại cũng như thành công). Học qua làm, từ nông dân đến nông dân là phương thức đào tạo tốt để chuyển giao những kiến thức và kinh nghiệm mới, thúc đẩy nhu cầu phát triển ở nông thôn. Hết sức chú trọng đến vai trò của những người lãnh đạo và có uy tín như già làng, trưởng bản, trưởng làng, những thanh niên, phụ nữ chủ chốt trong cộng đồng. Hình thành và phát triển các nhóm cùng sở thích để họ giúp đỡ nhau cùng phát triển.

  • Cần lồng ghép, phối hợp giữa các chương trình, dự án hoặc hợp nhất các chương trình, dự án có chung mục tiêu, địa bàn và đối tượng hưởng lợi. Muốn vậy, cần thiết phải có cơ chế, chính sách xoá đói, giảm nghèo đồng bộ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; có chương trình, dự án cụ thể cho từng vùng, từng xã đến hộ nghèo. Trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 138/2000/QĐ-TTg ngày 29 tháng 11 năm 2000 hợp nhất các chương trình Trung tâm cụm xã, Định canh định cư, Hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn với Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135). Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng đầu tư bình quân trong kinh phí đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn. Rất cần thiết có sự điều tra cụ thể, xác định chi tiết các vấn đề đầu tư và đầu tư tập trung, tránh dàn trải để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và mang lại lợi ích nhanh.

Trên đây là một số ý kiến nhằm phát huy hiệu quả của các chương trình, dự án trong lĩnh vực phát triển cộng đồng và xoá đói, giảm nghèo. Chắc chắn rằng, sẽ có nhiều ý kiến và kinh nghiệm tiếp cận theo cách khác. Chúng tôi rất mong muốn được cùng trao đổi.

 

 ......................................................................................................................................................................................

CHỢ ĐỒNG XUÂN

Trong số hàng chục chợ ở Thủ đô, từ chợ Mơ, chợ Hôm đến chợ Cửa Nam, chợ Ngọc Hà... thì chợ Ðồng Xuân là lớn nhất.

Chợ ra đời từ năm 1889 trên địa phận phường Ðồng Xuân cũ. Ban đầu chợ họp ngoài trời, sau được xây thành chợ với năm cầu chợ khung sắt, lợp kẽm lá, cầu nào cũng dài 52 m, cao 19 m.
Nằm cạnh ga đầu cầu Long Biên, lại ở ngay sát sông Hồng, chợ Ðồng Xuân là điểm thuận lợi để hàng hoá bốn phương dồn về đây cũng như từ đây toả đi các nơi. Ở chợ Đồng Xuân hầu như có đủ tất cả các mặt hàng phục vụ đời sống và sản xuất đồng thời nó là chợ bán buôn lớn nhất miền Bắc. Chợ có năm cửa lớn. Ngay cửa chính giữa có dựng một tủ kính trang nghiêm như một đài kỷ niệm: trong tủ trưng bày các hiện vật và các bức họa về trận chiến đấu oanh liệt giữa các chiến sỹ tự vệ Hà Nội và lính Pháp xâm lược ngày 14/2/1947. Chợ Ðồng Xuân không chỉ là một trung tâm buôn bán lớn của Hà Nội và của Việt Nam, nó còn là một điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách thập phương.

Ngày nay chợ Ðồng Xuân được xây dựng lại với qui mô lớn hơn gồm 3 tầng khang trang, rộng rãi nhưng vẫn giữ lại một phần kiến trúc mặt tiền của chợ cũ.
 

 

.......................................................................................................................................................................................

CỐM LÀNG VÒNG

Có một sự trùng hợp thật lý thú, trên đường đi lấy tài liệu và chụp ảnh về cốm làng Vòng, tôi được nghe giọng hát của ca sĩ Hồng Nhung trên loa truyền thanh thành phố:

"..Hà Nội mùa thu; Mùa thu Hà Nội
Mùa hoa sữa về; Thơm từng cơn gió
Mùa cốm xanh về; Thơm bàn tay nhỏ
Cốm sữa vỉa hè; Thơm bước chân qua,..."

Vâng! Không biết tự bao giờ, cốm làng Vòng đã quyện hoà với sắc thu Hà Nội, để trở thành nỗi nhớ của người Hà Nội lúc đi xa. Hạt cốm xanh rờn ấy vừa dẻo vừa thơm - cái hương thơm rất riêng của lúa nếp mới qua thời kỳ ngậm sữa, lại được những nghệ nhân cha truyền con nối kỳ công sáng tạo để hiến cho đời một món ăn tao nhã mang đậm hương sắc Việt Nam.

Người ẩm thực sành điệu nhâm nhi hạt cốm làng Vòng với chén nước chè Thái Nguyên cao suốt, hay thưởng thức cốm Vòng với những quả hồng trứng đỏ mọng, quả chuối tiêu trứng cuốc. Các chàng trai khôn ngoan đặt gói cốm làng Vòng cạnh chục hồng trứng làm quà sêu tết bố vợ tương lai. Màu xanh tươi của cốm như màu ngọc thạch quí giá hoà hợp với màu đỏ thắm của hồng như màu ngọc lựu già. Một thứ ngọt thanh, một thứ ngọt sắc, hai vị nâng đỡ nhau cho cuộc nhân duyên càng thêm ý nhị.

Bánh cốm được coi là bánh cưới, gửi thay cho cánh thiếp hồng báo hỷ. Mình bánh làm bằng cốm Vòng xào với đường và mỡ, thêm nhân bằng đậu xanh giã nhuyễn trộn với đường và ít sợi dừa trắng muốt, gói hình vuông, bọc lá chuối xanh, buộc dây lạt đỏ. Màu lạt như màu những sợi tơ hồng vấn vít xe duyên. Người đời biết cốm Vòng không ít, nghĩ ra nhiều cách thưởng thức cốm Vòng sao cho ý nhị và lý thú, nhưng có mấy ai hiểu được người làng Vòng làm ra hạt cốm thật lắm công phu, vất vả.

Người ta không biết đích xác nghề làm cốm làng Vòng có tự bao giờ, chỉ nghe các cụ xưa truyền lại: Vào một mùa thu cách đây cả ngàn năm, khi lúa bắt đầu uốn câu thì trời đổ mưa to, gió lớn, đê vỡ, ruộng lúa cao nhất đồng cũng chìm nghỉm. Người làng Vòng đành mò mẫm cắt những bông lúa còn non ấy đem về rang khô, ăn dần, chống đói. Không ngờ cái sản phẩm bất đắc dĩ ấy lại có hương vị riêng, rất hấp dẫn, khiến người làng Vòng thường hay làm để ăn chơi mỗi khi mùa thu đến. Cứ mỗi lần làm là một lần rút kinh nghiệm, sáng tạo thêm. Hạt cốm ngày càng xanh, càng mỏng, càng dẻo, càng thơm... Và cốm làng Vòng vượt qua khỏi luỹ tre làng, theo những gói quà, những gánh hàng rong đến với người thân, đến với người ăn chơi sành điệu, rồi trở thành đặc sản quý tiến vua nhà Lý (1009 - 1225), trở thành món ăn tao nhã nổi tiếng của người Tràng An. Vụ cốm mùa thu kéo dài tới gần 3 tháng, bắt đầu từ mồng 1 tháng 7 âm lịch trở đi.

Lúa gặt về, tuốt lấy hạt, sàng bỏ những cọng rơm, đãi qua nước, chọn lấy những hạt mẩy rồi đổ vào chảo rang bằng gang đúc. Ðể giữ được nhiệt, bếp lò rang cốm phải đắp bằng xỉ than có bề dày 15cm trên miệng, 40cm dưới chân, nhưng không đốt bằng than (nhiệt lượng quá cao) mà phải dùng củi (dễ điều chỉnh lửa). Lúc đầu rang vừa lửa, khi hạt thóc tái trắng thì bớt lửa đi. Hạt thóc rang phải được đảo liên tục, sao cho nóng đều. Rang 30 phút thì xem thử. Mỗi lần thử bốc lấy 5 hạt đặt lên một miếng gỗ, lấy ngón tay cái miết mạnh lên từng hạt thóc, nếu thấy "2 quằn 3 róc" - tức 2 hạt chưa róc vỏ nhưng quằn lại, 3 hạt róc vỏ nhưng không quằn - là được. Thóc rang xong, để nguội, cho vào cối giã, mỗi mẻ giã khoảng 5 kg. Giã mươi phút, thấy có trấu thì xúc ra, xẩy trấu đi, lại giã, tới 7 lần, mỗi lần phải tuỳ theo cốm khô hay ướt mà có biện pháp xử lý. Lần giã thứ 5 phải phân cốm ra làm 3 loại: cốm rón, cốm non và cốm gốc và giã riêng từng loại trong hai lần cuối. Cốm thành phẩm được gói thành hai lớp lá. Lớp trong là lá ráy xanh và mát giữ cho cốm khỏi khô và không phai nhạt màu xanh ngọc thạch quý giá; Lớp ngoài là lá sen có hương thơm thoang thoảng, thanh cao.

   

Địa chỉ: Đường Nguyễn Văn Huyên, Cầu Giấy, Hà Nội Tel: (84-4) 7562193  *  Fax: (84-4) 8360351 *  E-mail: vme18@hn.vnn.vn
© 2004 Bản quyền thuộc về Hội Dân tộc học Việt Nam  *  Thiết kế bởi Công ty Truyền thông FPT 
Giấy phép số: 238/GP-BC ngày 02/06/2004 Cục Báo chí - Bộ Văn hóa Thông tin
Chịu trách nhiệm chính: PGS. TS. Nguyễn Văn Huy