Viện nghiên cứu Văn Hoá Dân gian là cơ quan
nghiên cứu khoa học có đầy đủ tư cách pháp nhân trực thuộc Viện Khoa
học Xã hội Việt Nam.
Viện có chức năng cơ bản là:
nghiên cứu cơ bản về văn hoá dân gian (Folklore) với quan niệm văn
hoá dân gian là một chỉnh thể nguyên hợp; Phối hợp với các cơ quan
hữu quan giúp Viện Khoa học xã hội Việt Nam điều hoà, phối hợp công
tác nghiên cứu văn hoá dân gian trong cả nước.
Viện Nghiên cứu Văn hoá Dân gian có các
nhiệm vụ:
Tổ chức thực hiện
các chương trình đề tài nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
về văn hoá dân gian Việt Nam.
Tổ chức thực hiện
việc điều tra, thu thập các hiện tượng điển hình về văn hoá dân
gian, phối hợp với các ngành, các địa phương thực hiện việc điều
tra, bảo vệ các di sản văn hoá dân gian của dân tộc.
Tổ chức trao đổi và
hợp tác khoa học với các ngành, các địa phương, với các nước
trên thế giới, đặc biệt các nước có mối quan hệ giao lưu văn hoá
với Việt Nam.
Đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ khoa học có chuyên ngành văn hóa dân gian.
Xây dựng cơ sở vật
chất, kỹ thuật cần thiết cho công tác nghiên cứu văn hoá dân
gian trước mắt và lâu dài.
II. Thành tựu khoa học
1. Từng bước xây dựng cơ sở lý luận khoa
học của ngành
Những công trình đi vào lĩnh vực này đã góp
phần làm rõ mục đích, đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra đối
với khoa nghiên cứu văn hoá dân gian. Thuộc loại các công trình này,
trước hết là:
Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian.
Đây là một trong những công trình nền tảng của khoa nghiên cứu văn
hoá dân gian Việt Nam. Cuốn sách là kết quả của 10 năm GS.
Đinh Gia Khánh tích luỹ lý luận và cọ sát
với đối tượng nghiên cứu mới: văn hoá dân gian. Sau khi
trình bày về sự hình thành của folklore học, tác giả đã phân tích
tính nguyên hợp của văn hoá dân gian, xác định ba thành tố chủ yếu
của văn hoá dân gian, nhận diện các vấn đề lớn của folklore học Việt
Nam hiện nay trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian
nằm trong cụm công trình của GS. Đinh Gia Khánh được Chủ tịch nước
tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (năm 1996).
Công trình Văn hoá dân gian những lĩnh vực
nghiên cứu tiếp tục xác định đối tượng nghiên cứu của khoa nghiên
cứu văn hoá dân gian. Văn hoá dân gian những phương pháp
nghiên cứu:phương pháp tổng hợp là phương pháp cơ bản của công tác
nghiên cứu folklore, các phương pháp khác: phương pháp tiếp cận hệ
thống, phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại, phương pháp sử dụng
bản đồ, phương pháp thống kê, phương pháp loại hình học, phương pháp
sưu tầm,... đã được bàn đến.
Quan niệm về folklore (GS. Ngô Đức Thịnh
chủ biên) hệ thống hoá nhiều quan niệm của các học giả nước ngoài và
của các nhà khoa học Việt Nam về folklore.
Trong Dẫn luận nghiên cứu folklore Việt
Nam, PGS. Vũ Ngọc Khánh đã phân tích các thành tố, trình bày về tâm
thức Việt Nam, ứng xử Việt Nam qua folklore.
Do sự trưởng thành của một đội ngũ nghiên cứu folklore được hình
thành từ sau cuộc kháng chiến lần thứ nhất,
Viện đã tổ chức biên soạn công trình Các tác gia nghiên cứu văn
hoá dân gian (GS. Nguyễn Xuân Kính chủ biên) nhằm bước đầu đánh giá
các tác gia nghiên cứu văn hoá dân gian, trân trọng ghi nhận đóng
góp của từng người, cố gắng tìm thấy ở họ những kinh
nghiệm thành công và cả kinh nghiệm chưa thành công để cho những
người đi sau rút ngắn con đường tiếp cận chân lý. Và như vậy, những
tác gia đã quá cố và những tác gia đang còn nhiều sinh lực nghiên
cứu đều đang và sẽ còn góp phần tích cực vào bước tiến chung của cả
ngành khoa học về folklore. Sách này giới thiệu 14 tác gia: Vũ Ngọc
Phan, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên, Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh,
Hà Văn Cầu, Nguyễn Huy Hồng, Vũ Ngọc Khánh, Võ Quang Nhơn, Phan Đăng
Nhật, Đỗ Bình Trị, Ninh Viết Giao, Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu
(xếp thứ tự theo năm sinh). Phần phụ lục là danh sách 114 tác giả
sưu tầm, nghiên cứu, giảng dạy văn hoá dân gian với những thông tin
ngắn gọn: họ tên, năm sinh, trình độ, nơi công tác, sách in riêng,
sách in chung (phần này xếp các tác giả theo trật tự chữ cái của họ
tác giả).
2. Nghiên cứu văn hoá dân gian dưới dạng
tổng thể, tổng hợp
Thuộc hướng nghiên cứu này, trước hết là
nhóm các công trình địa chí văn hoá dân gian Vĩnh Phú, Hà Nội và
Nghệ Tĩnh; trong đó Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh (GS. Nguyễn
Đổng Chi chủ biên) thành công hơn cả.
Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh vinh dự nằm trong cụm tác phẩm
của học giả Nguyễn Đổng Chi được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Hồ
Chí Minh đợt 1 (năm 1996).
Về nhóm công trình loại từ điển có Từ vựng thuật ngữ folklore (PGS.
Vũ Ngọc Khánh), Từ điển thuật ngữ văn hoá dân gian (GS. Kiều Thu
Hoạch chủ biên, chưa xuất bản).
Nhận thức rõ tầm quan trọng của biến đổi
với sự phát triển kinh tế - xã hội, Viện đã lập nhiều nhóm nghiên
cứu, khảo sát văn hoá dân gian ở những làng ven biển tiêu biểu.
Công trình Văn hoá dân gian làng ven biển (GS. Ngô Đức Thịnh
chủ biên) với 9 làng nổi tiếng từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên - Huế:
Trà Cổ, Quan Lạn, Đồ Sơn, Kẻ Mom, Phương Cần, Cửa Sót, Nhượng Bạn,
Cảnh Dương, Thuận An đã được xuất bản.
Nằm trong các công trình nghiên cứu văn hoá
vùng còn có: Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam (GS. Ngô
Đức Thịnh chủ biên); Các vùng văn hoá Việt Nam (GS. Đinh Gia Khánh
và Cù Huy Cận chủ biên).
Xét về mặt văn hoá, Việt Nam vừa là Đông Nam á, vừa là Đông á, và
cũng có phần Nam á. Văn hoá dân gian nước ta là nơi hội tụ của văn
hoá Đông Nam á và là nơi tiếp xúc đậm nét với văn hoá Trung Hoa, lại
có chịu ảnh hưởng của văn hoá ấn Độ. Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh
Đông Nam Á của GS. Đinh Gia Khánh là cuốn
sách đầu tiên nghiên cứu folklore Việt Nam trong bối cảnh văn hoá
khu vực.
Thuộc nhóm các công trình nghiên cứu văn hoá dân gian dưới dạng tổng
thể còn có: Văn hoá truyền thống làng Đồng Kỵ (PGS. Lê Hồng Lý chủ
biên); Những khía cạnh văn hoá dân gian M’nông Noong (TS. Đỗ Hồng
Kỳ)...
3. Hướng nghiên cứu từng thành tố văn hoá
dân gian và nghiên cứu chuyên sâu
Văn hoá dân gian bao gồm nhiều thành tố:
Ngữ văn dân gian, Nghệ thuật biểu diễn dân gian, Nghệ thuật tạo hình
dân gian, Phong tục - lễ hội, Tri thức dân gian,...
Thành tố ngữ văn dân gian lại bao gồm nhiều
thể loại: truyền thuyết, truyện cổ tích, sử thi, tục ngữ,
ca dao, vè,...
Đã tiến hành biên soạn và xuất bản những bộ sách công cụ lớn. Kho
tàng ca dao người Việt (GS. Nguyễn Xuân Kính và GS. Phan Đăng Nhật
chủ biên) có số lượng ca dao tương đương với số lượng ca dao của 40
cuốn sách cộng lại (gồm 49 tập), tất cả có 12.487 bài.
Kho tàng ca dao sắp xếp tư liệu theo nhiều
hệ thống.Hệ thống thứ nhất là ca dao người Việt được sắp xếp
theo hệ thống chữ cái tính từ tiếng đầu mỗi bài, ở mỗi vần chữ cái,
số thứ tự được đánh từ 1 đến hết. Tên vần chữ cái và tên
số sẽ là tên gọi của bài ca dao. ở hệ thống này, mỗi một bài ca dao
sẽ được giới thiệu bản chính và các dị bản (nếu có) với xuất xứ cụ
thể: ghi ở sách nào, trang bao nhiêu; số lần xuất hiện trên các sách
của từng bản chính và bản khác; thời gian xuất hiện trên sách của
từng bài kể cả bản chính và dị bản (căn cứ vào thời gian ra đời của
những cuốn sách biên soạn); các phần, các yếu tố trùng lặp của từng
bài; các yếu tố khác biệt, biến đổi trong quá trình lưu truyền qua
các thời kỳ lịch sử và qua từng địa phương.
Hệ thống thứ hai là bảng tra cứu ca dao
theo chủ đề. ở hệ thống này không cần in lại toàn bộ bài ca dao, chỉ
nêu tên gọi, bài nào mang bao nhiêu chủ đề thì sắp xếp ở bấy nhiêu
chủ đề.
Kho tàng tục ngữ người Việt (GS. Nguyễn Xuân Kính chủ biên) được tổ
chức biên soạn với phương pháp tương tự. Kho tàng tục ngữ người Việt
tập hợp 16.098 câu tục ngữ được thu thập từ 63 tập sách đã xuất bản.
Bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt gồm 19 tập, do Trung tâm
Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia giữ bản quyền,
Nhà xuất bản Khoa học Xã hội chủ trì, phối
hợp với Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian tổ chức biên soạn.
Do cơ chế phù hợp, bộ máy điều hành gọn nhẹ và có thực chất, do thu
hút được sự tham gia của chuyên gia nhiều cơ quan, trong vòng 18
tháng, công trình đã được biên soạn xong và được tổ chức nghiệm thu.
Tổng tập văn học dân gian người Việt giới thiệu văn học dân gian
theo thể loại. Trong tình hình tư liệu hiện nay, văn học dân gian
người Việt có 12 thể loại:
Tục ngữ
Câu đố
Truyền thuyết
Truyện cổ tích
Truyện cười
Truyện ngụ ngôn
Giai thoại văn học
Truyện nôm bình dân
Vè
Cao dao
Kịch bản chèo sân
đình
Kịch bản tuồng dân
gian
Mỗi một thể loại được giới thiệu như sau:
Bài khái luận trình
bày giới thuyết về thể loại, lịch sử sưu tầm nghiên cứu, giá trị
nội dung và hình thức.
Phần biên soạn tác
phẩm.
Thư mục.
Mỗi một thể loại sẽ được thể hiện trong từ một đến hai tập, mỗi
tập khoảng 1000 trang in khổ lớn. Toàn bộ 19 tập thể hiện
diện mạo văn học dân gian cổ truyền người Việt.
Cuối năm 2002, các tập 1, 2, 15, 16 đã ra mắt bạn đọc. Sắp tới sẽ
tiếp tục xuất bản 15 tập còn lại (tất cả đều được Hội đồng nghiệm
thu đánh giá xuất sắc).
Có khá nhiều công trình chuyên sâu về văn
học dân gian.
Thi pháp ca dao (GS. Nguyễn Xuân Kính) là chuyên luận đầu tiên
nghiên cứu về thi pháp thơ ca dân gian người Việt một cách có hệ
thống.
Trước sự dè dặt của những người đi trước về bản chất thể loại của
truyện nôm bình dân, trong Truyện nôm nguồn gốc và bản chất thể
loại, GS Kiều Thu Hoạch đã khẳng định những
đặc trưng văn học dân gian của bộ phận truyện nôm bình
dân.
Chuyên luận Vai trò của văn học dân gian trong văn xuôi hiện đại
Việt Nam (PGS. Võ Quang Trọng) phân tích một tác dụng nữa của
folklore ngôn từ trong xã hội hiện đại.
Đặc biệt Sử thi Êđê (GS.TSKH Phan Đăng Nhật) là một cống hiến trong
việc nghiên cứu sử thi, đã được các học giả nước ngoài (Nga,
Bungari) đánh giá rất cao: “ý nghĩa cả công
trình này khó có thể đánh giá được hết” (N.I. Niculin), có “bổ sung
vào danh mục những sử thi cổ sơ một loại sử thi mới: sử thi - khan
của người Êđê ở Việt Nam” (Xtêphana Xtôicôva).
Ngoài ra còn có những chuyên luận khác:
Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và lễ hội về các anh hùng
(TS. Lê Văn Kỳ), Cổ tích thần kỳ người Việt. Đặc điểm cấu tạo cốt
truyện (TS. Tăng Kim Ngân), Vùng sử thi Tây Nguyên (GS. Phan Đăng
Nhật), Nghiên cứu sử thi Việt Nam (GS. Phan Đăng Nhật), Sử thi thần
thoại M’nông (TS. Đỗ Hồng Kỳ, Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới
(TS. Phạm Minh Hạnh),...
Nghiên cứu lễ hội và tín ngưỡng dân gian có
các công trình: Lễ hội cổ truyền (PGS. Lê Trung Vũ chủ
biên), Đạo mẫu ở Việt Nam (GS. Ngô Đức Thịnh chủ biên), Tín ngưỡng
và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam (GS. Ngô Đức Thịnh chủ biên), Khảo
sát tín ngưỡng ở Việt Nam (GS. Ngô Đức Thịnh chủ biên), Khảo sát
thực trạng văn hoá lễ hội của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ (TS.
Nguyễn Quang Lê chủ biên).
Biên soạn hương ước người Việt và luật tục có các tập sách của Vũ
Ngọc Khánh, Võ Quang Trọng, Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật v.v...
Nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn có các cuốn
sách: Khái luận nghệ thuật múa (PGS. Lê Ngọc Canh), Múa
tín ngưỡng dân gian Việt Nam (PGS. Lê Ngọc Canh), Nghi lễ và âm nhạc
trong nghi lễ của người Jrai (Thạc sĩ Tô Đông Hải), Nghệ thuật biểu
diễn truyền thống Chăm (Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải), Nhạc cụ gõ cổ
truyền Việt Nam (Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải).
Về làng nghề thủ công và nghệ thuật tạo hình dân gian có các công
trình của Đặng Đức, Trương Duy Bích, Trương Minh Hằng.
Về luật tục và hương ước có các cuốn sách
Luật tục Êđê: tập quán pháp (nhiều soạn giả), Luật tục
M’nông: tập quán pháp (Ngô Đức Thịnh chủ biên), Luật tục Jrai (Phan
Đăng Nhật chủ biên), Luật tục Thái ở Việt Nam: tập quan pháp (Ngô
Đức Thịnh, Cầm Trọng), Hương ước Thái Bình (Nguyễn Thanh), Hương ước
Thanh Hoá (Võ Quang Trọng, Vũ Ngọc Khánh), Luật tục và phát triển
nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật đồng
chủ biên).
Nhìn vào mảng công trình đã nêu, có thể
nhận thấy trong lĩnh vực nghiên cứu văn học dân gian, do ngành này
được hình thành sớm và bản thân đối tượng rất phong phú các nhà khoa
học của Viện đã đạt được những thành tựu đáng kể. Hiện
nay, văn học dân gian được nghiên cứu theo hai khuynh hướng. Khuynh
hướng thứ nhất xem xét nó là đối tượng của khoa nghiên cứu văn học,
được nghiên cứu bởi các quy phạm và phương pháp nghiên cứu văn học
(có chú ý đến đặc thù dân gian). Khuynh hướng nghiên cứu này được
thể hiện tại Viện Văn học và các khoa ngữ văn các trường đại học.
Khuynh hướng nghiên cứu này đã từng tồn tại ở Liên Xô trước đây và
đang tồn tại ở nước Nga hiện nay. Khuynh hướng nghiên cứu thứ hai là
xem xét văn học dân gian trong tổng thể văn hoá dân gian. Khuynh
hướng này được thể hiện rõ nét và thành công tại Viện Nghiên cứu Văn
hóa dân gian Bungari. ở Việt Nam, hai khuynh hướng nghiên cứu này
không loại trừ nhau mà bổ sung, hỗ trợ nhau.
Việc nghiên cứu nghệ thuật tạo hình và làng
nghề chưa có nhiều thành tựu. Trong việc nghiên cứu nghệ
thuật biểu diễn dân gian, nghệ thuật múa được chú ý nhiều hơn cả.
Những lĩnh vực khác nhau nghiên cứu chèo, tuồng dân gian, Viện chưa
có chuyên gia.
Trong khoảng chục năm trở lại đây, cùng với những nhìn nhận và những
chính sách cởi mở hơn trước của Nhà nước về văn hoá, viện đã có
những công trình và những chuyên gia đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu
tín ngưỡng dân gian, lễ hội. Đây là khu vực nhạy cảm và có tính thời
sự cao.
4. Hợp tác với địa phương
Trong hơn 20 năm qua, một trong những hướng nghiên cứu quan trọng
của Viện là kết hợp với các địa phương (Đắc Lắc, Gia Lai, Lâm Đồng,
Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Thái Bình, Lạng Sơn, Quảng
Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Bắc, Hà Tây, Nam Định...) triển khai các đề tài
sưu tầm, nghiên cứu văn hoá dân gian. Kết
quả của sự hợp tác nói trên là nhiều công trình khoa học ra đời,
tiêu biểu là bộ địa chí của các tỉnh thành: Địa chí văn
hoá dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, Địa chí văn hoá dan gian
vùng Đất Tổ, Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, Văn hoá truyền
thống các tỉnh Bắc Trung Bộ, Văn hóa dòng họ ở Nghệ An, Văn hoá dòng
họ ở Thái Bình...
Đặc biệt, từ năm 1984 đến nay, Viện phối
hợp với tỉnh Đắc Lắc điều tra, sưu tầm, nghiên cứu văn hoá dân gian
Đắc Lắc, thu được kết quả khả quan, trong đó có những
phát hiện quan trọng, như việc phát hiện sử thi Ot Nrong, tìm thấy
sử thi của người Xê Đăng, nhận diện luật tục dân tộc M’nông, đã xuất
bản gần 20 công trình về văn hoá dân gian các dân tộc trong tỉnh,
trong đó phải kể tới: Sử thi Tây Nguyên, Văn hoá dân gian Êđê và văn
hoá dân gian M’nông, Luật tục M’nông, 4 tập sử thi Ot Nrong của dân
tộc M’nông. Viện đã phối hợp với địa phương cùng tổ chức nhiều hội
thảo khoa học, trong đó có hai hội thảo quốc tế: “Sử thi Tây Nguyên”
(1998) và “Luật tục và phát triển nông thôn ở Việt Nam” (199) tại
thành phố Buôn Ma Thuột. Việc phối hợp này đã mang lại hiệu quả tốt,
thúc đẩy công việc bảo tồn các di sản văn hoá đang có nguy cơ bị mai
một.
5. Hướng nghiên cứu ứng dụng
Hướng nghiên cứu này cũng được Viện rất
quan tâm. Viện đã đề xuất với Chính phủ dự án xây dựng Làng văn hoá
du lịch tại Ba Vì - Đồng Mô và được Chính phủ chấp thuận.
Viện cũng phối hợp với các ngành, các địa phương tổ chức một số
chương trình nghiên cứu và hội thảo mang tính ứng dụng. Thí dụ
chương trình nghiên cứu và Hội thảo khoa học về “Luật tục và phát
triển nông thôn ở Việt Nam” (1999), chương trình nghiên cứu và hội
thảo khoa học quốc gia về ứng dụng luật tục, hương ước trong quản lý
nông thôn đối với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay. Huyện
đã phối hợp với Nghệ An và Thái Bình tổ chức hội thảo về dòng họ và
văn hoá dòng họ trong việc xây dựng các mối quan hệ xã hội ở nông
thôn, phối hợp với Thừa Thiên - Huế tổ chức hội thảo về bảo tồn và
phát huy di sản văn hoá Huế trong xu thế công nghiệp hoá và hiện đại
hoá. Ngoài ra, Chương trình nghiên cứu văn hoá dân gian hiện đại và
Chương trình nghiên cứu vai trò của lễ hội trong đời sống xã hội
hiện đại đã góp phần trả lời những vấn đề đang đặt ra trong cuộc
sống.
Do những thành tựu đã nêu năm 1999, Viện
Nghiên cứu Văn hoá Dân gian được Nhà nước tặng thưởng Huân chương
Lao động hạng Nhì.