........................................................................................................................................................................................

VIỆN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA DÂN GIAN

Tên cũ: Viện Văn hóa Dân gian - 1991

I. Chức năng, nhiệm vụ

Viện nghiên cứu Văn Hoá Dân gian là cơ quan nghiên cứu khoa học có đầy đủ tư cách pháp nhân trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.

Viện có chức năng cơ bản là: nghiên cứu cơ bản về văn hoá dân gian (Folklore) với quan niệm văn hoá dân gian là một chỉnh thể nguyên hợp; Phối hợp với các cơ quan hữu quan giúp Viện Khoa học xã hội Việt Nam điều hoà, phối hợp công tác nghiên cứu văn hoá dân gian trong cả nước.

Viện Nghiên cứu Văn hoá Dân gian có các nhiệm vụ:

  • Tổ chức thực hiện các chương trình đề tài nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng về văn hoá dân gian Việt Nam.

  • Tổ chức thực hiện việc điều tra, thu thập các hiện tượng điển hình về văn hoá dân gian, phối hợp với các ngành, các địa phương thực hiện việc điều tra, bảo vệ các di sản văn hoá dân gian của dân tộc.

  • Tổ chức trao đổi và hợp tác khoa học với các ngành, các địa phương, với các nước trên thế giới, đặc biệt các nước có mối quan hệ giao lưu văn hoá với Việt Nam.

  • Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học có chuyên ngành văn hóa dân gian.

  • Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cần thiết cho công tác nghiên cứu văn hoá dân gian trước mắt và lâu dài.

II. Thành tựu khoa học

1. Từng bước xây dựng cơ sở lý luận khoa học của ngành

Những công trình đi vào lĩnh vực này đã góp phần làm rõ mục đích, đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra đối với khoa nghiên cứu văn hoá dân gian. Thuộc loại các công trình này, trước hết là:

Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian. Đây là một trong những công trình nền tảng của khoa nghiên cứu văn hoá dân gian Việt Nam. Cuốn sách là kết quả của 10 năm GS. Đinh Gia Khánh tích luỹ lý luận và cọ sát với đối tượng nghiên cứu mới: văn hoá dân gian. Sau khi trình bày về sự hình thành của folklore học, tác giả đã phân tích tính nguyên hợp của văn hoá dân gian, xác định ba thành tố chủ yếu của văn hoá dân gian, nhận diện các vấn đề lớn của folklore học Việt Nam hiện nay trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian nằm trong cụm công trình của GS. Đinh Gia Khánh được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (năm 1996).

Công trình Văn hoá dân gian những lĩnh vực nghiên cứu tiếp tục xác định đối tượng nghiên cứu của khoa nghiên cứu văn hoá dân gian. Văn hoá dân gian những phương pháp nghiên cứu:phương pháp tổng hợp là phương pháp cơ bản của công tác nghiên cứu folklore, các phương pháp khác: phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại, phương pháp sử dụng bản đồ, phương pháp thống kê, phương pháp loại hình học, phương pháp sưu tầm,... đã được bàn đến.

Quan niệm về folklore (GS. Ngô Đức Thịnh chủ biên) hệ thống hoá nhiều quan niệm của các học giả nước ngoài và của các nhà khoa học Việt Nam về folklore.

Trong Dẫn luận nghiên cứu folklore Việt Nam, PGS. Vũ Ngọc Khánh đã phân tích các thành tố, trình bày về tâm thức Việt Nam, ứng xử Việt Nam qua folklore.

Do sự trưởng thành của một đội ngũ nghiên cứu folklore được hình thành từ sau cuộc kháng chiến lần thứ nhất, Viện đã tổ chức biên soạn công trình Các tác gia nghiên cứu văn hoá dân gian (GS. Nguyễn Xuân Kính chủ biên) nhằm bước đầu đánh giá các tác gia nghiên cứu văn hoá dân gian, trân trọng ghi nhận đóng góp của từng người, cố gắng tìm thấy ở họ những kinh nghiệm thành công và cả kinh nghiệm chưa thành công để cho những người đi sau rút ngắn con đường tiếp cận chân lý. Và như vậy, những tác gia đã quá cố và những tác gia đang còn nhiều sinh lực nghiên cứu đều đang và sẽ còn góp phần tích cực vào bước tiến chung của cả ngành khoa học về folklore. Sách này giới thiệu 14 tác gia: Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên, Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Hà Văn Cầu, Nguyễn Huy Hồng, Vũ Ngọc Khánh, Võ Quang Nhơn, Phan Đăng Nhật, Đỗ Bình Trị, Ninh Viết Giao, Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu (xếp thứ tự theo năm sinh). Phần phụ lục là danh sách 114 tác giả sưu tầm, nghiên cứu, giảng dạy văn hoá dân gian với những thông tin ngắn gọn: họ tên, năm sinh, trình độ, nơi công tác, sách in riêng, sách in chung (phần này xếp các tác giả theo trật tự chữ cái của họ tác giả).

2. Nghiên cứu văn hoá dân gian dưới dạng tổng thể, tổng hợp

Thuộc hướng nghiên cứu này, trước hết là nhóm các công trình địa chí văn hoá dân gian Vĩnh Phú, Hà Nội và Nghệ Tĩnh; trong đó Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh (GS. Nguyễn Đổng Chi chủ biên) thành công hơn cả.

Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh vinh dự nằm trong cụm tác phẩm của học giả Nguyễn Đổng Chi được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (năm 1996).

Về nhóm công trình loại từ điển có Từ vựng thuật ngữ folklore (PGS. Vũ Ngọc Khánh), Từ điển thuật ngữ văn hoá dân gian (GS. Kiều Thu Hoạch chủ biên, chưa xuất bản).

Nhận thức rõ tầm quan trọng của biến đổi với sự phát triển kinh tế - xã hội, Viện đã lập nhiều nhóm nghiên cứu, khảo sát văn hoá dân gian ở những làng ven biển tiêu biểu. Công trình Văn hoá dân gian làng ven biển (GS. Ngô Đức Thịnh chủ biên) với 9 làng nổi tiếng từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên - Huế: Trà Cổ, Quan Lạn, Đồ Sơn, Kẻ Mom, Phương Cần, Cửa Sót, Nhượng Bạn, Cảnh Dương, Thuận An đã được xuất bản.

Nằm trong các công trình nghiên cứu văn hoá vùng còn có: Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam (GS. Ngô Đức Thịnh chủ biên); Các vùng văn hoá Việt Nam (GS. Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận chủ biên).

Xét về mặt văn hoá, Việt Nam vừa là Đông Nam á, vừa là Đông á, và cũng có phần Nam á. Văn hoá dân gian nước ta là nơi hội tụ của văn hoá Đông Nam á và là nơi tiếp xúc đậm nét với văn hoá Trung Hoa, lại có chịu ảnh hưởng của văn hoá ấn Độ. Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á của GS. Đinh Gia Khánh là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu folklore Việt Nam trong bối cảnh văn hoá khu vực.

Thuộc nhóm các công trình nghiên cứu văn hoá dân gian dưới dạng tổng thể còn có: Văn hoá truyền thống làng Đồng Kỵ (PGS. Lê Hồng Lý chủ biên); Những khía cạnh văn hoá dân gian M’nông Noong (TS. Đỗ Hồng Kỳ)...

3. Hướng nghiên cứu từng thành tố văn hoá dân gian và nghiên cứu chuyên sâu

Văn hoá dân gian bao gồm nhiều thành tố: Ngữ văn dân gian, Nghệ thuật biểu diễn dân gian, Nghệ thuật tạo hình dân gian, Phong tục - lễ hội, Tri thức dân gian,...

Thành tố ngữ văn dân gian lại bao gồm nhiều thể loại: truyền thuyết, truyện cổ tích, sử thi, tục ngữ, ca dao, vè,...

Đã tiến hành biên soạn và xuất bản những bộ sách công cụ lớn. Kho tàng ca dao người Việt (GS. Nguyễn Xuân Kính và GS. Phan Đăng Nhật chủ biên) có số lượng ca dao tương đương với số lượng ca dao của 40 cuốn sách cộng lại (gồm 49 tập), tất cả có 12.487 bài. Kho tàng ca dao sắp xếp tư liệu theo nhiều hệ thống. Hệ thống thứ nhất là ca dao người Việt được sắp xếp theo hệ thống chữ cái tính từ tiếng đầu mỗi bài, ở mỗi vần chữ cái, số thứ tự được đánh từ 1 đến hết. Tên vần chữ cái và tên số sẽ là tên gọi của bài ca dao. ở hệ thống này, mỗi một bài ca dao sẽ được giới thiệu bản chính và các dị bản (nếu có) với xuất xứ cụ thể: ghi ở sách nào, trang bao nhiêu; số lần xuất hiện trên các sách của từng bản chính và bản khác; thời gian xuất hiện trên sách của từng bài kể cả bản chính và dị bản (căn cứ vào thời gian ra đời của những cuốn sách biên soạn); các phần, các yếu tố trùng lặp của từng bài; các yếu tố khác biệt, biến đổi trong quá trình lưu truyền qua các thời kỳ lịch sử và qua từng địa phương.

Hệ thống thứ hai là bảng tra cứu ca dao theo chủ đề. ở hệ thống này không cần in lại toàn bộ bài ca dao, chỉ nêu tên gọi, bài nào mang bao nhiêu chủ đề thì sắp xếp ở bấy nhiêu chủ đề.

Kho tàng tục ngữ người Việt (GS. Nguyễn Xuân Kính chủ biên) được tổ chức biên soạn với phương pháp tương tự. Kho tàng tục ngữ người Việt tập hợp 16.098 câu tục ngữ được thu thập từ 63 tập sách đã xuất bản.

Bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt gồm 19 tập, do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia giữ bản quyền, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội chủ trì, phối hợp với Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian tổ chức biên soạn. Do cơ chế phù hợp, bộ máy điều hành gọn nhẹ và có thực chất, do thu hút được sự tham gia của chuyên gia nhiều cơ quan, trong vòng 18 tháng, công trình đã được biên soạn xong và được tổ chức nghiệm thu.

Tổng tập văn học dân gian người Việt giới thiệu văn học dân gian theo thể loại. Trong tình hình tư liệu hiện nay, văn học dân gian người Việt có 12 thể loại:

  • Tục ngữ

  • Câu đố

  • Truyền thuyết

  • Truyện cổ tích

  • Truyện cười

  • Truyện ngụ ngôn

  • Giai thoại văn học

  • Truyện nôm bình dân

  • Cao dao

  • Kịch bản chèo sân đình

  • Kịch bản tuồng dân gian

Mỗi một thể loại được giới thiệu như sau:

  • Bài khái luận trình bày giới thuyết về thể loại, lịch sử sưu tầm nghiên cứu, giá trị nội dung và hình thức.

  • Phần biên soạn tác phẩm.

  • Thư mục.

Mỗi một thể loại sẽ được thể hiện trong từ một đến hai tập, mỗi tập khoảng 1000 trang in khổ lớn. Toàn bộ 19 tập thể hiện diện mạo văn học dân gian cổ truyền người Việt.

Cuối năm 2002, các tập 1, 2, 15, 16 đã ra mắt bạn đọc. Sắp tới sẽ tiếp tục xuất bản 15 tập còn lại (tất cả đều được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xuất sắc).

Có khá nhiều công trình chuyên sâu về văn học dân gian.

Thi pháp ca dao (GS. Nguyễn Xuân Kính) là chuyên luận đầu tiên nghiên cứu về thi pháp thơ ca dân gian người Việt một cách có hệ thống.

Trước sự dè dặt của những người đi trước về bản chất thể loại của truyện nôm bình dân, trong Truyện nôm nguồn gốc và bản chất thể loại, GS Kiều Thu Hoạch đã khẳng định những đặc trưng văn học dân gian của bộ phận truyện nôm bình dân.

Chuyên luận Vai trò của văn học dân gian trong văn xuôi hiện đại Việt Nam (PGS. Võ Quang Trọng) phân tích một tác dụng nữa của folklore ngôn từ trong xã hội hiện đại.

Đặc biệt Sử thi Êđê (GS.TSKH Phan Đăng Nhật) là một cống hiến trong việc nghiên cứu sử thi, đã được các học giả nước ngoài (Nga, Bungari) đánh giá rất cao: “ý nghĩa cả công trình này khó có thể đánh giá được hết” (N.I. Niculin), có “bổ sung vào danh mục những sử thi cổ sơ một loại sử thi mới: sử thi - khan của người Êđê ở Việt Nam” (Xtêphana Xtôicôva).

Ngoài ra còn có những chuyên luận khác: Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và lễ hội về các anh hùng (TS. Lê Văn Kỳ), Cổ tích thần kỳ người Việt. Đặc điểm cấu tạo cốt truyện (TS. Tăng Kim Ngân), Vùng sử thi Tây Nguyên (GS. Phan Đăng Nhật), Nghiên cứu sử thi Việt Nam (GS. Phan Đăng Nhật), Sử thi thần thoại M’nông (TS. Đỗ Hồng Kỳ, Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới (TS. Phạm Minh Hạnh),...

Nghiên cứu lễ hội và tín ngưỡng dân gian có các công trình: Lễ hội cổ truyền (PGS. Lê Trung Vũ chủ biên), Đạo mẫu ở Việt Nam (GS. Ngô Đức Thịnh chủ biên), Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam (GS. Ngô Đức Thịnh chủ biên), Khảo sát tín ngưỡng ở Việt Nam (GS. Ngô Đức Thịnh chủ biên), Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ (TS. Nguyễn Quang Lê chủ biên).

Biên soạn hương ước người Việt và luật tục có các tập sách của Vũ Ngọc Khánh, Võ Quang Trọng, Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật v.v...

Nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn có các cuốn sách: Khái luận nghệ thuật múa (PGS. Lê Ngọc Canh), Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam (PGS. Lê Ngọc Canh), Nghi lễ và âm nhạc trong nghi lễ của người Jrai (Thạc sĩ Tô Đông Hải), Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm (Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải), Nhạc cụ gõ cổ truyền Việt Nam (Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải).

Về làng nghề thủ công và nghệ thuật tạo hình dân gian có các công trình của Đặng Đức, Trương Duy Bích, Trương Minh Hằng.

Về luật tục và hương ước có các cuốn sách Luật tục Êđê: tập quán pháp (nhiều soạn giả), Luật tục M’nông: tập quán pháp (Ngô Đức Thịnh chủ biên), Luật tục Jrai (Phan Đăng Nhật chủ biên), Luật tục Thái ở Việt Nam: tập quan pháp (Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng), Hương ước Thái Bình (Nguyễn Thanh), Hương ước Thanh Hoá (Võ Quang Trọng, Vũ Ngọc Khánh), Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật đồng chủ biên).

Nhìn vào mảng công trình đã nêu, có thể nhận thấy trong lĩnh vực nghiên cứu văn học dân gian, do ngành này được hình thành sớm và bản thân đối tượng rất phong phú các nhà khoa học của Viện đã đạt được những thành tựu đáng kể. Hiện nay, văn học dân gian được nghiên cứu theo hai khuynh hướng. Khuynh hướng thứ nhất xem xét nó là đối tượng của khoa nghiên cứu văn học, được nghiên cứu bởi các quy phạm và phương pháp nghiên cứu văn học (có chú ý đến đặc thù dân gian). Khuynh hướng nghiên cứu này được thể hiện tại Viện Văn học và các khoa ngữ văn các trường đại học. Khuynh hướng nghiên cứu này đã từng tồn tại ở Liên Xô trước đây và đang tồn tại ở nước Nga hiện nay. Khuynh hướng nghiên cứu thứ hai là xem xét văn học dân gian trong tổng thể văn hoá dân gian. Khuynh hướng này được thể hiện rõ nét và thành công tại Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian Bungari. ở Việt Nam, hai khuynh hướng nghiên cứu này không loại trừ nhau mà bổ sung, hỗ trợ nhau.

Việc nghiên cứu nghệ thuật tạo hình và làng nghề chưa có nhiều thành tựu. Trong việc nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn dân gian, nghệ thuật múa được chú ý nhiều hơn cả. Những lĩnh vực khác nhau nghiên cứu chèo, tuồng dân gian, Viện chưa có chuyên gia.

Trong khoảng chục năm trở lại đây, cùng với những nhìn nhận và những chính sách cởi mở hơn trước của Nhà nước về văn hoá, viện đã có những công trình và những chuyên gia đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu tín ngưỡng dân gian, lễ hội. Đây là khu vực nhạy cảm và có tính thời sự cao.

4. Hợp tác với địa phương

Trong hơn 20 năm qua, một trong những hướng nghiên cứu quan trọng của Viện là kết hợp với các địa phương (Đắc Lắc, Gia Lai, Lâm Đồng, Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Thái Bình, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Bắc, Hà Tây, Nam Định...) triển khai các đề tài sưu tầm, nghiên cứu văn hoá dân gian. Kết quả của sự hợp tác nói trên là nhiều công trình khoa học ra đời, tiêu biểu là bộ địa chí của các tỉnh thành: Địa chí văn hoá dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, Địa chí văn hoá dan gian vùng Đất Tổ, Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, Văn hoá truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ, Văn hóa dòng họ ở Nghệ An, Văn hoá dòng họ ở Thái Bình...

Đặc biệt, từ năm 1984 đến nay, Viện phối hợp với tỉnh Đắc Lắc điều tra, sưu tầm, nghiên cứu văn hoá dân gian Đắc Lắc, thu được kết quả khả quan, trong đó có những phát hiện quan trọng, như việc phát hiện sử thi Ot Nrong, tìm thấy sử thi của người Xê Đăng, nhận diện luật tục dân tộc M’nông, đã xuất bản gần 20 công trình về văn hoá dân gian các dân tộc trong tỉnh, trong đó phải kể tới: Sử thi Tây Nguyên, Văn hoá dân gian Êđê và văn hoá dân gian M’nông, Luật tục M’nông, 4 tập sử thi Ot Nrong của dân tộc M’nông. Viện đã phối hợp với địa phương cùng tổ chức nhiều hội thảo khoa học, trong đó có hai hội thảo quốc tế: “Sử thi Tây Nguyên” (1998) và “Luật tục và phát triển nông thôn ở Việt Nam” (199) tại thành phố Buôn Ma Thuột. Việc phối hợp này đã mang lại hiệu quả tốt, thúc đẩy công việc bảo tồn các di sản văn hoá đang có nguy cơ bị mai một.

5. Hướng nghiên cứu ứng dụng

Hướng nghiên cứu này cũng được Viện rất quan tâm. Viện đã đề xuất với Chính phủ dự án xây dựng Làng văn hoá du lịch tại Ba Vì - Đồng Mô và được Chính phủ chấp thuận. Viện cũng phối hợp với các ngành, các địa phương tổ chức một số chương trình nghiên cứu và hội thảo mang tính ứng dụng. Thí dụ chương trình nghiên cứu và Hội thảo khoa học về “Luật tục và phát triển nông thôn ở Việt Nam” (1999), chương trình nghiên cứu và hội thảo khoa học quốc gia về ứng dụng luật tục, hương ước trong quản lý nông thôn đối với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay. Huyện đã phối hợp với Nghệ An và Thái Bình tổ chức hội thảo về dòng họ và văn hoá dòng họ trong việc xây dựng các mối quan hệ xã hội ở nông thôn, phối hợp với Thừa Thiên - Huế tổ chức hội thảo về bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Huế trong xu thế công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Ngoài ra, Chương trình nghiên cứu văn hoá dân gian hiện đại và Chương trình nghiên cứu vai trò của lễ hội trong đời sống xã hội hiện đại đã góp phần trả lời những vấn đề đang đặt ra trong cuộc sống.

Do những thành tựu đã nêu năm 1999, Viện Nghiên cứu Văn hoá Dân gian được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì.
 

Địa chỉ: Đường Nguyễn Văn Huyên, Cầu Giấy, Hà Nội Tel: (84-4) 7562193  *  Fax: (84-4) 8360351 *  E-mail: vme18@hn.vnn.vn
© 2004 Bản quyền thuộc về Hội Dân tộc học Việt Nam  *  Thiết kế bởi Công ty Truyền thông FPT 
Giấy phép số: 238/GP-BC ngày 02/06/2004 Cục Báo chí - Bộ Văn hóa Thông tin
Chịu trách nhiệm chính: PGS. TS. Nguyễn Văn Huy