1. Mở đầu
Gần đây, ca trù - một bộ môn nghệ thuật ca nhạc cổ truyền của dân tộc đã được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Lần đầu tiên một hội thảo về ca trù được tổ chức là Hội thảo ca trù Cổ Đạm ngày 8/12/1998 do Sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh và Uỷ ban nhân dân huyện Nghi Xuân chủ trì. Ngày 26/12/1999, Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội, Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội, Câu lạc bộ Ca trù Hà Nội phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học ca trù Thăng Long - Hà Nội. Và lần này là Chi hội Văn nghệ dân gian Thanh Hoá. Điều này cho thấy, ca trù đã được quan tâm tìm hiểu hoặc thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và quản lí văn hóa các địa phương.
Riêng Thanh Hóa, chúng ta đã thấy có các cuốn sách đề cập đến một vài lối ca nhạc dân gian như: Khảo sát hát ca công Thanh Hóa của Lê Huy Trâm, cuốn Hát nhà trò Văn Trinh của Hoàng Tuấn Phổ. Đó là những đóng góp đáng kể của các nhà sưu tầm, khảo cứu ở địa phương.
Trong hội thảo lần này, các nhà nghiên cứu, các nhà sưu tầm về âm nhạc dân gian đã hoặc đang sống và làm việc tại Thanh Hóa sẽ cung cấp cho các nhà nghiên cứu ở trung ương những tư liệu, những khảo sát nhiều thông tin và công phu về ca trù và sinh hoạt ca trù ở Thanh Hoá xưa và nay.
2. Một vài ghi nhận về ca trù Thanh Hoá
Theo sự khảo cứu của chúng tôi trong nhiều năm qua, thì các tài liệu về ca trù hoặc liện quan đến ca trù ở Thanh Hoá không nhiều. Thần tích tổ cô đầu cho chúng ta thông tin rằng động Bích Đào ở huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, Thanh Hoa là nơi Đông Phương Sóc báo tin cho vợ chồng Đinh Dự sinh quý tử. Bản thần tích này, chúng tôi đã có lần lưu ý rằng, nó chỉ là ghi chép huyền tích, một tham khảo chứ không thể làm chỗ tin cậy cho các kết luận khoa học. Cuốn sách Thanh Hoá chư thần lục (VHv.1290 - thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm) cho biết về mấy vị thần là ca công (ca hát nói chung, không phải riêng về ca trù) được thờ tại các xã Ngọc Trung, Bàn Thạch, Bái Thuỷ(1).
Ngoài ra, cụ Chu Hà cũng cho biết tại các huyện Thiệu Yên, Thọ Xuân, Quảng Xương ở Thanh Hoá có các dòng ca công phát triển và thờ chung vị tổ là Phong Quân, được dân thờ ở Ngọc Trung.
Chúng tôi có thâm nhập, nghiên cứu về các văn bia có nội dung mua bán quyền giữ cửa đình và không ghi nhận được một bia nào ở Thanh Hoá. Điều này có nghĩa là những sinh hoạt ca hát diễn xướng dân gian không diễn ra ở đình. Có ba nguyên nhân có thể đưa ra giải thích tại chính trong công trình Hát nhà trò Văn Trinh của Hoàng Tuấn Phổ. Thứ nhất: “Xứ Thanh không phổ biến thuật ngữ “Hát cửa đình” vì ở Thanh Hóa ít nơi thờ thần thành hoàng tại đình làng. Gần như một quy chế rất riêng, đức thánh thờ tại đền, ông thần thờ tại nghè”(2). Thứ hai: “Hát nhà trò Văn Trinh vốn không có người cầm chầu, cầm trịch như hát ca trù hay cô đầu”(3).
Trong các tuyển tập thơ ca trù đã xuất bản trước đây, chúng ta không thấy có nhà thơ nào ở Thanh Hoá có sáng tác hát nói nói riêng, ca trù nói chung. Chỉ tới khi Hoàng Tuấn Phổ xuất bản cuốn Hát nhà trò Văn Trinh thì chúng ta mới thấy rằng Thanh Hoá có những sáng tác hát nói, mà có hai tác giả quê Thanh Hoá là ông Huấn Mơ và ông Phong Vận. Theo Hoàng Tuấn Phổ thì nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Thượng Hiền cũng đã có thời gian dài sống tại Thanh Hóa và ông đã sáng tác bài “Bản tỉnh phong cảnh ca” viết về Thanh Hóa.
Rất tiếc chúng ta không được nghe các đào nương hát các bài thơ hát nói này như thế nào, nhưng theo những gì mà Hoàng Tuấn Phổ cho biết thì hát nhà trò Văn Trinh không phải là hát ca trù. Vì hai lẽ: Thứ nhất là “không sử dụng đàn đáy mà dùng đàn nguyệt”(4); và thứ hai là “Hát nhà trò Văn Trinh vốn không có người cầm chầu, cầm trịch như hát ca trù hay cô đầu”(5).
Còn về hát ca công Thanh Hóa, nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Loan cho biết: “Hát cửa đình (đồng thời là hát ca công) ở Thanh Hóa ít ra cũng đã có thời không giống với hát ả đào về làn điệu thường dùng mà lại giống với chèo”(6).
Như vậy, chúng tôi không hiểu hát ca trù Thanh Hóa có gì khác và giống với ca trù ở các tỉnh châu thổ Bắc bộ như Hà Nội, Hà Tây.
Khi viết công trình Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù, chúng tôi có dụng tâm tìm kiếm các tư liệu mĩ thuật cổ để từ đó dựng lại bóng dáng sinh hoạt ca trù qua các thời đại, một hướng nghiên cứu được gợi ý từ PGS.TS Nguyễn Thụy Loan. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không thấy có một tư liệu mĩ thuật hoặc khảo cổ học nào về ca trù Thanh Hóa.
Với những gì trình bày ở trên, thì chỉ có sự hiện diện của các bài hát nói được tuyển trong sách của Lê Huy Trâm và Hoàng Tuấn Phổ là căn cứ xác thực nhất cho thấy có sinh hoạt ca trù ở Thanh Hoá. Tuy nhiên, hát nhà trò Văn Trinh lại thực sự không phải là ca trù. Đó chỉ là một lối hát dân gian. Rất mong chúng ta sẽ có dịp được nghe các đào nương hát các bài hát nói này để xem xét nó dưới góc nhìn của nghệ thuật trình diễn. Vì thực tế, trong truyền thống, thể thơ hát nói rất được ưa chuộng sáng tác, nhưng chỉ đến khi các bài thơ này được các đào nương hát lên theo lối hát ca trù thì khi ấy mới được gọi là hát nói.
3. Mấy vấn đề cần bàn thêm về ca trù xứ Thanh
Sự thật thì lối hát dân gian mà Lê Huy Trâm gọi là hát ca công và miêu tả trong cuốn sách Khảo sát hát ca công Thanh Hóa có phải là ca trù không? Và cả hát nhà trò Văn Trinh nữa, có phải là ca trù không? Ca trù Thanh Hoá gồm những gì?
Để trả lời các câu hỏi này, trước hết chúng ta phải trả lời cho được câu hỏi Ca trù là gì? Câu trả lời tưởng chừng rất đơn giản, nhưng thật không hề dễ dàng, nếu muốn câu trả lời cho thật khoa học.
Hát ca trù chính là hát ả đào, hát cô đầu. Hai chữ ả đào đã thấy xuất hiện trong Đại Việt sử kí toàn thư, khi cho biết những người con hát đều gọi là đào nương hoặc ả đào, dưới thời Lý Thái Tổ. Đó là văn bản đưa ra niên đại sớm nhất cho hai từ ả đào; nhưng không thể vì vậy mà khẳng định hát ả đào bắt đầu đã có từ thời Lý. Vì rằng ả đào chỉ là từ để gọi những người hát xướng là nữ giới; và ả đào và hát ả đào là hai khái niệm hoàn toàn khác hẳn nhau.
Ca trù cũng là một khái niệm cần được cắt nghĩa rõ ràng. Trù là thẻ làm bằng tre, trên thẻ có ghi số tiền, dùng để thưởng cho đào và kép biểu thị sự khen thưởng, thay cho việc thưởng bằng tiền mặt, để cuối chầu hát sẽ căn cứ vào số thẻ mà tính tiền trả cho đào và kép hoặc giáo phường. Người quyết định việc thưởng này chính là vị quan viên (khách nghe hát), sử dụng trống chầu (gọi là cầm chầu). Đó là nguồn gốc của tên gọi ca trù. Tuy nhiên, trong lề lối thưởng thức ca nhạc thời trước, không phải chỉ trong hát ả đào mới có cầm chầu và thưởng thẻ, mà trong thưởng thức hát chèo, hát tuồng cũng tương tự như vậy. Trong cuốn sách Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù, xuất bản năm 2000 chúng tôi cũng đã từng đề cập đến vấn đề này(7).
Ca trù chỉ một lối hát, có đến vài chục làn điệu. Lối hát ca trù có nhiều làn điệu khác nhau. Người ta căn cứ vào địa điểm hát để gọi tên lối hát ca trù bằng những cái tên khác nhau như: Hát Cửa đình (hát ở đình, đền, miếu), hát Cửa quyền, hát Nhà Tơ (hát ở dinh quan, tư gia các gia đình quyền quý)...
Chúng tôi tạm đưa ra một số nét đặc trưng của ca trù như sau:
- Ca trù có các làn điệu đặc thù cho một lối hát chủ yếu sử dụng hơi trong, ở khoang miệng, khoang họng, khoang mũi. Chúng tôi muốn nhấn mạnh điều này, vì khi hát ca trù, người ca nữ chỉ ngồi/ hoặc đứng một chỗ để hát nên nếu không sử dụng lối đưa hơi đặc biệt này thì không thể hát được nhiều bài, qua nhiều ngày. Các làn điệu cơ bản là: Bắc phản, Gửi thư, Thét nhạc, Nhịp ba cung bắc, Hát nói;
- Ca trù sử dụng ba nhạc khí quan trọng: Đàn đáy, Phách và Trống chầu (trường hợp có tế lễ sẽ dùng nhiều nhạc cụ hơn);
- Ca trù là một bộ môn nghệ thuật ca nhạc thính phòng, người nghe cũng tham gia vào cuộc hát bằng việc cầm chầu.
Dưới đây là đối chiếu với Thanh Hoá:
a - Tài liệu của Lê Huy Trâm cho thấy hát ca công ở Thanh Hóa chỉ có các điệu sau: hát lót và hát nói.
- Tài liệu của Hoàng Tuấn Phổ cho biết hát nhà trò Văn Trinh có các điệu sau: Hát sử, hát phú, hát truyện, hát thơ, hát ngâm, hát vãn. Những điệu này có điệu: hát sử, hát phú, hát truyện, hát thơ, hát ngâm, có tên gọi trùng/gần trùng với các điệu ca trù, nhưng vì chúng tôi chưa được nghe nên không biết có thuộc ca trù không.
- Lê Huy Trâm cho biết hát ca công Thanh Hóa dùng các nhạc cụ sau: đàn đáy, phách, trống chầu.
- Hoàng Tuấn Phổ cho biết hát nhà trò Văn Trinh dùng các nhạc cụ sau: đàn nguyệt, phách.
b - Lê Huy Trâm cho biết hát ca công Thanh Hóa có sử dụng trống chầu
- Hoàng Tuấn Phổ cho biết hát nhà trò Văn Trinh không sử dụng trống chầu
4. Mấy lời tạm kết
Thanh Hóa là nơi có địa danh được ghi nhận trong thần tích tổ ca trù như một cái nôi của ca trù, gắn bó với lịch sử và nguồn gốc ca trù.
Thanh Hóa cũng là nơi có sinh hoạt ca trù, nhưng không thuần nhất mà đã lẫn với các sinh hoạt ca nhạc dân gian khác nhất là chèo. PGS.TS Nguyễn Thụy Loan cũng đã từng đề cập đến trường hợp này(8). Gần đây, khi tìm hỏi các nghệ nhân, đặc biệt là ông Ngô Trọng Bình, được xem biểu diễn, thấy ca trù Thanh Hóa cũng giống với ca trù ở Hà Nội và các tỉnh lân cận Hà Nội.
Hi vọng thời gian tới các vấn đề của ca trù Thanh Hóa sẽ được quan tâm khảo sát, sưu tầm nghiên cứu nhiều hơn, trong đó quan trọng nhất là việc sưu tầm ghi băng, ghi hình các trình diễn ca trù Thanh Hoá hiện nay, và các điều tra hồi cố về sinh hoạt ca trù Thanh Hóa trong quá khứ.
Nguyễn Xuân Diện*
(*) Thạc sĩ, Viện Nghiên cứu Hán nôm
1. Xem
- Lê Huy Trâm: Thử tìm hiểu nguồn gốc hát ca công ở Thanh Hoá. In trong Kỷ yếu Ca trù Cổ Đạm. Sở VHTT Hà Tĩnh, 1999. Tr. 61 -63.
- Nguyễn Xuân Diện: Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù. Nxb KHXH. Hà Nội, 2000. Tr. 37.
2 . Hoàng Tuấn Phổ: Hát nhà trò Văn Trinh. Nxb Văn học. Hà Nội, 2003. Tr. 73.
6 .Nguyễn Thụy Loan: Nói thêm về thời điểm ra đời của ca trù. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 4 năm 2004. Trang, 46, cột 1.
7 .Nguyễn Xuân Diện: Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù. Nxb KHXH. Hà Nội, 2000. Tr. 100 và 101.
8 . Nguyễn Thụy Loan, bài đã dẫn, trang 45 cột 2 và trang 46 cột 1.